CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TOÁN Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu các vấn đề thuộc lĩnh vực đề tài 1.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước Vào những năm đầu thế kỉ XX, các cuộc cách mạng khoa học công nghệ bùng nổ, đòi hỏi sự phát triển kéo theo của các khoa học sáng tạo. Các nhà khoa học Mỹ cho rằng, việc phát hiện và bồi dưỡng những nhân cách sáng tạo là vấn đề có ý nghĩa quốc gia, là nhiệm vụ then chốt bởi vì “hoạt động sáng tạo có ảnh hưởng to lớn không chỉ đến sự tiến bộ khoa học, mà còn đến toàn bộ xã hội nói chung” (Taylor C.
Vào những năm 1950, những nghiên cứu về sáng tạo một cách có hệ thống đã được bắt đầu. Số lượng các tác giả, tác phẩm và các cơ sở nghiên cứu vấn về sáng tạo tăng nhanh kể từ đó. Như vậy, mặc dù khoa học về sáng tạo đã có từ rất lâu, nhưng mãi đến những năm 1950 của thế kỉ XX cho đến nay thì TDST phát huy được vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển thế giới, khi đó con người mới thực sự quan tâm tới việc làm thế nào để phát huy tối đa sức sáng tạo của con người. Từ đó, khoa học sáng tạo mới được quan tâm nghiên cứu rộng khắp trên phạm vi toàn cầu.
Tình hình nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, những hoạt động liên quan đến khoa học về lĩnh vực sáng tạo thật sự được bắt đầu vào những năm 70 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, mãi cho đến hiện nay những nghiên cứu về sáng tạo vẫn còn khá ít. Trong những nghiên cứu đó, có một số nghiên cứu tập trung trong lĩnh vực tâm lý học. Ví như, trong cuốn “Tâm lý học sáng tạo”[16], tác giả Nguyễn Huy Tú cho rằng: “Sáng tạo thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề”.
Từ đó phát triển năng lực và phẩm chất cá nhân một cách tổng thể. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số nghiên cứu khác tập trung trong lĩnh vực lý luận dạy học. Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn trong “Tập cho HS giỏi toán làm quen dần với nghiên cứu toán học” [13] đã đặt việc rèn luyện khả năng “phát hiện vấn đề” làm trọng tâm, và thông qua lao động tìm tòi “cái mới” để rèn luyện TDST. Trong cuốn sách, tác giả khẳng định để sáng tạo toán học, người học phải vừa giỏi phân tích, vừa giỏi tổng hợp.
Phân tích và tổng hợp là hai quá trình, nó đan xen vào nhau, cái này tạo điều kiện cho cái kia. Tác giả Hoàng Chúng trong“Rèn luyện khả năng sáng tạo toán học ở nhà trường phổ thông”[4], đã tập trung nghiên cứu các phương pháp suy nghĩ cơ bản trong sáng tạo toán học như đặc biệt hóa, tổng quát hóa, tương tự hóa. Trong lĩnh vực giáo dục bậc THCS, một số nghiên cứu gần đây đề cập đến việc rèn luyện và phát triển TDST cho HS. Ví như tác giả Phạm Gia Đức - Phạm Đức Quang với công trình “Đổi mới phương pháp dạy học môn toán ở trường trung học cơ sở nhằm hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh”, hay tác giả Nguyễn Duy Thuận với cuốn “Giáo trình phát triển tư duy Toán học trong học sinh”, hay bài báo của tác giả Nguyễn Thiện Chí đăng trên Tạp chí giáo dục số 440 năm 2019 về “Dạy học một số dạng toán số học theo hướng rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh khá, giỏi lớp 8,9 ở trường THCS”,.
Như vậy, ở cả trong và ngoài nước cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề sáng tạo và phát triển TDST cho HS trong QTDH. Nhưng nhìn chung, việc nghiên cứu về tính sáng tạo ở nước ta vẫn còn non trẻ. Điều này gây ra những hạn chế nhất định đến chất lượng của nền giáo dục, đào tạo của nước ta. Do đó những tinh hoa sáng tạo của thế hệ trẻ cũng chưa được phát huy một cách cao độ.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các vấn đề chung về tư duy 1. Khái niệm tư duy Thế giới hiện thực xung quanh có rất nhiều điều mà con người chưa biết, còn cần phải tìm hiểu và nghiên cứu. Bởi vậy, hoạt động thực tiễn có nhiệm vụ đòi hỏi con người phải hiểu thấu những cái chưa biết đó, phải tìm tòi để vạch ra được cái bản chất và những quy luật tác động của chúng.
Quá trình nhận thức đó gọi là tư duy. Theo tâm lý học, TD là sản phẩm đặc biệt có tổ chức cao của bộ não người. Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết. Quá trình tư duy được nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ sự nhận thức cảm tính nhưng vượt xa các giới hạn của nhận thức cảm tính bởi nó chứa đựng ý chí chủ quan và kĩ năng kinh nghiệm độc lập của cá nhân chủ thể nhận thức.
Dưới quan điểm của giáo dục, tư duy được hiểu là hệ thống gồm nhiều ý tưởng, tức là gồm nhiều biểu thị tri thức về một vật hay một sự kiện. Tư duy là suy nghĩ hay tái tạo suy nghĩ để hiểu hay giải quyết một nhiệm vụ hay công việc nào đó. Tóm lại, TD là một hiện tượng tâm lý, là hoạt động nhận thức bậc cao ở con người, TD giúp con người nhận thức về thế giới. Cơ sở sinh lý của TD là sự hoạt động của vỏ đại não.
Hoạt động TD đồng nghĩa với hoạt động trí tuệ mà ở đó con người tri giác sự vật, hiện tượng để tìm ra các triết lý, lý luận, thuộc tính của sự vật hiện tượng nhằm chinh phục thế giới và phục vụ cho cuộc sống của con người. Đặc điểm của tư duy Khi gặp tình huống “có vấn đề”, con người sẽ nảy sinh hoạt động TD. Tuy nhiên ở mỗi cá nhân khác nhau thì tình huống “có vấn đề” sẽ được nhận thức khác nhau, được chuyển thành nhiệm vụ cá nhân khác nhau. TD phản ánh những cái bản chất nhất, cái chung cho nhiều sự vật hợp thành một nhóm, một loại, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đồng thời làm xuất hiện những cái cụ thể, cá biệt của từng sự vật.
Ngoài ra, TD luôn phản ánh gián tiếp hiện thực. Trong TD, có sự thoát khỏi những kinh nghiệm cảm tính của mỗi chủ thể tư duy. Cuối cùng, các kết quả của TD được ngôn ngữ biểu đạt lại và được khách quan hóa chúng cho người khác và cho cả bản thân chủ thể TD. Các giai đoạn của tư duy Trong hoạt động thực tiễn và trong quá trình nhận thức, mỗi hành động TD đều nhằm giải quyết một nhiệm vụ nảy sinh.
Quá trình TD trải qua nhiều giai đoạn từ khi gặp tình huống có vấn đề đến khi giải quyết được vấn đề. Hơn nữa, quá trình tư duy còn khiến chủ thể TD tri giác về vấn đề đã được giải quyết để tìm tòi, sáng tạo, nghiên cứu đi sâu về vấn đề - thúc đẩy sự khởi đầu cho một hành động TD mới. Có thể nói, tư duy là một hoạt động trí tuệ trải qua các giai đoạn sau: Giai đoạn 1: Nhận thức vấn đề. Giai đoạn 2: Huy động các tri thức kinh nghiệm.
Giai đoạn 3: Sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết. Giai đoạn 4: Kiểm tra giả thiết. Khi giả thuyết đã được khẳng định hoặc chính xác hóa thì nó sẽ cho ta câu trả lời, hay đáp số cho vấn đề đặt ra. Vấn đề đã được giải quyết lại được nghiên cứu đi sâu, làm khởi đầu cho một hoạt động TD mới.
Như vậy quá trình TD diễn ra theo các giai đoạn, và được trải qua đầy đủ các khâu của quá trình tư duy ở trên. Các thao tác tư duy Hoạt động TD của con người diễn ra thông qua các thao tác sau: - Phân tích - Tổng hợp - So sánh - tương tự - Khái quát hoá 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đặc biệt hóa Tóm lại, các TTTD cơ bản được chủ thể TD sử dụng để tri giác về vấn đề cần giải quyết. Trong thực tế, các thao tác TD diễn ra linh hoạt mà không theo trình tự máy móc. Tuy nhiên, tùy theo từng nhiệm vụ TD, điều kiện TD mà hành động TD phải thực hiện theo thao tác TD phù hợp, không nhất thiết phải trải qua đầy đủ các TTTD ở trên.
Các vấn đề về tư duy sáng tạo 1. Khái niệm tư duy sáng tạo Khi con người đứng trước tình huống có vấn đề, sáng tạo là một thuộc tính tâm lý đặc biệt, thể hiện được tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm của chủ thể TD. Khi đó, bằng tư duy độc lập cao mà chủ thể TD tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý và hiệu quả hơn. Tư duy sáng tạo là sản phẩm cao nhất của tư duy.
Năng lực sáng tạo là năng lực cốt lõi của hoạt động sáng tạo; nó được xác định từ chất lượng đặc biệt của các quá trình tư duy. Đã có nhiều giải thích về khái niệm TDST. Từ các khái niệm về TDST, theo tôi các tác giả đều thống nhất rằng: TDST là một phẩm chất trí tuệ đặc biệt của con người; hoạt động sáng tạo diễn ra ở mọi khía cạnh của đời sống; bản chất của sáng tạo là con người tìm ra cái mới, cái độc đáo, có giá trị thúc đẩy sự phát triển của đời sống xã hội. Các tác giả đều có điểm chung là chỉ ra được ý nghĩa xã hội của sản phẩm sáng tạo.
Trong luận văn này tôi quan niệm: TDST là tư duy có khuynh hướng phát hiện và giải thích bản chất sự vật theo lối mới, hoặc tạo ra ý tưởng mới, cách giải quyết mới không theo tiền lệ đã có. Đặc trưng của tư duy sáng tạo Trong nghiên cứu về TDST, đã có nhiều quan niệm về các đặc trưng (thuộc tính) của TDST. Các quan niệm đều tập trung cho rằng tính linh hoạt, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo, tính phê phán, tính độc lập, tính chi tiết, khả năng giải quyết 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vấn đề theo cách mới là những đặc trưng của TDST. Trong dân gian đã có nhiều câu nói về tính chất, đặc điểm, cách thức của sáng tạo, nhưng chung quy lại đều thể hiện các đặc trưng của TDST, chẳng hạn như: “tùy cơ ứng biến”, “gió chiều nào che chiều ấy (với ý nghĩa tích cực)”.