Chương 1: Cơ sở lí luận. Chương 2: Xây dựng bài tập chủ đề “Số nguyên” có liên quan đến thực tế nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS lớp 6. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. Phần kết luận và kiến nghị: Trình bày những kết luận rút ra trong quá trình nghiên cứu và thực nghiệm, nêu một số ý kiến đề xuất.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề về năng lực 1. Năng lực Năng lực là một vấn đề được đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau trong nước và quốc tế. Từ góc độ triết học, năng lực được hiểu rộng hơn là những đặc tính tâm lí của cá nhân để điều tiết hành vi và duy trì sự sống của cá thể.
Từ góc độ đặc biệt hơn, năng lực là tổ hợp các đặc tính tâm lí của con người để thích hợp với một nghề nghiệp cụ thể đã hình thành trong lịch sử. Từ góc độ tâm lí học, năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lí cá nhân, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định. Năng lực được hiểu như là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt. Từ góc độ giáo dục học, năng lực được hiểu là khả năng được hình thành và phát triển để con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp.
Năng lực có thể được thể hiện qua khả năng thi hành một hoạt động, thực thi một nhiệm vụ. Trong lí luận dạy học hiện đại, năng lực được coi là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức. Tóm lại, năng lực được định nghĩa như là tổng hợp các đặc tính tâm lí của con người, có thể được hình thành và phát triển thông qua giáo dục và các hoạt động thực tế. Năng lực không phải là một thuộc tính tâm lí xuất sắc nào đó mà là tổ hợp các thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với những yêu cầu cụ thể.
Phần lớn, các năng lực có được do luyện tập, thực hành mà có. Năng lực toán học Năng lực toán học được hiểu là những đặc điểm tâm lí cá nhân, đặc biệt ở các hoạt động trí tuệ, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động toán học, được biểu hiện ở một số mặt: - Năng lực thực hiện các thao tác tư duy cơ bản. - Năng lực lập luận toán học một cách ngắn gọn và hệ thống các phép tính. - Tư duy linh hoạt.
- Thể hiện lời giải cho các bài toán rõ ràng, đơn giản. - Chuyển đổi linh hoạt từ tư duy thuận sang tư duy nghịch và ngược lại. - Ghi nhớ các sơ đồ tư duy khái quát, các quan hệ khái quát trong lĩnh vực số và dấu. Với mỗi cá nhân khác nhau, năng lực học tập toán học cũng khác nhau.
Năng lực Toán học được hình thành và phát triển trong quá trình học tập và rèn luyện của mỗi HS. Vì vậy, việc lựa chọn nội dung và phương pháp phù hợp giúp mỗi HS được nâng cao dần về mặt năng lực là vấn đề quan trọng trong dạy và học môn Toán. Một số biểu hiện của các năng lực Toán học (theo 5 năng lực chuyên biệt môn Toán) như sau: Năng lực tư duy và lập luận toán học thể hiện qua việc thực hiện được các hành động: - So sánh; phân tích; tổng hợp; đặc biệt hoá, khái quát hoá; tương tự; quy nạp; diễn dịch. - Chỉ ra được chứng cứ, lí lẽ và biết lập luận hợp lí trước khi kết luận.
- Giải thích hoặc điều chỉnh cách thức giải quyết vấn đề theo phương diện toán học. [2] Năng lực mô hình hoá toán học là giải quyết các vấn đề thực tế bằng công cụ toán học, thể hiện qua việc thực hiện được các hành động: 8 - Sử dụng các mô hình toán học (gồm công thức, phương trình, bảng biểu, đồ thị, .) để mô tả các tình huống đặt ra trong các bài toán thực tế. - Giải quyết các vấn đề toán học trong mô hình được thiết lập. - Thể hiện và đánh giá lời giải trong ngữ cảnh thực tế và cải tiến mô hình trong trường hợp cách giải quyết không phù hợp.
[2] Năng lực giải quyết vấn đề Toán học thể hiện qua việc thực hiện được các hành động: - Nhận biết, phát hiện được vấn đề. - Đề xuất, lựa chọn được cách thức, giải pháp giải quyết vấn đề. - Sử dụng kiến thức, kĩ năng toán học (bao gồm các công cụ và thuật toán) để giải quyết vấn đề đặt ra. - Đánh giá giải pháp đề ra và khái quát hóa cho các vấn đề tương tự.
[2] Năng lực giao tiếp Toán học thể hiện qua việc thực hiện được các hành động: - Nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép được các thông tin toán học cần thiết. - Trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học khi tương tác với người khác (với yêu cầu thích hợp về sự đầy đủ, chính xác). - Sử dụng ngôn ngữ toán học một cách hiệu quả (chữ số, chữ cái, kí hiệu, biểu đồ, đồ thị, các liên kết logic, .) kết hợp với ngôn ngữ thông thường hoặc động tác hình thể khi trình bày, giải thích và đánh giá các ý tưởng toán học khi sự tương tác (thảo luận, tranh luận) với người khác. [2] Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học Toán thể hiện qua việc thực hiện được các hành động: - Nêu được tên gọi, tác dụng, quy cách sử dụng, cách thức bảo quản các đồ dùng, phương tiện trực quan thông thường, phương tiện khoa học công nghệ (đặc biệt là phương tiện sử dụng công nghệ thông tin), phục vụ cho việc học Toán.
9 - Sử dụng các công cụ, phương tiện học toán thành thạo và linh hoạt, đặc biệt là phương tiện khoa học công nghệ để tìm tòi, khám phá và giải quyết vấn đề toán học (phù hợp với đặc điểm nhận thức lứa tuổi). - Nêu rõ được các ưu điểm và hạn chế của những công cụ, phương tiện hỗ trợ để có cách sử dụng phù hợp. Năng lực giải quyết vấn đề Toán học Về năng lực giải quyết vấn đề Năng lực giải quyết vấn đề là một năng lực rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là trong lĩnh vực toán học. Các nhà khoa học và GV nghiên cứu đang tập trung phát triển năng lực giải quyết vấn đề nói chung và năng lực giải quyết vấn đề toán học nói riêng.
Việc này có thể giúp cho các HS và sinh viên trang bị được kỹ năng giải quyết vấn đề và làm chủ toán học một cách hiệu quả hơn. Vấn đề này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh đổi mới chương trình và SGK hiện nay. Trong mọi nỗ lực để nâng cao chất lượng giáo dục, chương trình và SGK đang được cập nhật và điều chỉnh. Năng lực giải quyết vấn đề toán học sẽ là một trong những yếu tố quan trọng được chú trọng trong các chương trình và SGK mới này.
Việc tập trung phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học có thể giúp cho các HS và sinh viên có thể học tốt hơn và trở thành những người có kỹ năng giải quyết vấn đề tốt. Về năng lực giải quyết vấn đề Toán học Năng lực giải quyết vấn đề Toán học là một trong những năng lực quan trọng mà HS cần phát triển trong quá trình học môn Toán. Năng lực này không chỉ giúp HS áp dụng kiến thức toán học vào các tình huống thực tế, mà còn phát triển khả năng tư duy logic, sáng tạo, và quản lí thời gian. Năng lực giải quyết vấn đề Toán học được biểu hiện qua: - Phát hiện được vấn đề cần giải quyết.
- Xác định được cách thức, giải pháp để giải quyết vấn đề. 10 - Sử dụng được các kiến thức, kĩ năng toán học phù hợp để giải quyết vấn đề. - Giải thích được một cách rõ ràng giải pháp đã thực hiện. Ví dụ bài toán sau đây: Đề bài: Một thủ kho của một xí nghiệp dệt may áo ghi lại số lượng hàng xuất – nhập kho trong một ngày (đơn vị cái) như sau: Xuất kho 154 cái, nhập kho 503 cái, xuất kho 446 cái.
Đầu ngày kho có 207 cái áo. Hỏi cuối ngày kho còn lại bao nhiêu cái áo? Giải: Cuối ngày, kho còn lại số áo là: 207 – 154 + 503 – 446 = 110 (cái áo). ● Phát hiện được vấn đề cần giải quyết: Số lượng hàng xuất kho 154 cái, nhập kho 503 cái, xuất kho 446 cái. Buổi sáng kho có 207 cái áo.
Cần tính số lượng hàng cuối ngày còn lại trong kho. ● Xác định được cách thức, giải pháp giải quyết vấn đề: Sử dụng số nguyên âm để biểu thị số áo xuất, số nguyên dương biểu thị số áo nhập vào. Sau đó tính tổng. ● Sử dụng được các kiến thức, kĩ năng toán học tương thích để giải quyết vấn đề: 207 – 154 + 503 – 446 = 110.
● Giải thích được giải pháp đã thực hiện: tổng thu được 110 nên số áo trong kho là 110. Vai trò của bài tập Bài tập đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập của HS. Nó giúp HS củng cố kiến thức đã học, rèn luyện kỹ năng và năng lực, phát triển tư duy và sự sáng tạo. Cụ thể, vai trò của bài tập như sau: 11 - Củng cố kiến thức: Bài tập giúp HS tập trung lại vào kiến thức đã học và củng cố lại những kiến thức này bằng cách áp dụng vào các bài tập khác nhau.
- Rèn luyện kỹ năng và năng lực: Bài tập giúp HS rèn luyện kỹ năng và năng lực của mình trong việc giải quyết các bài tập toán học khác nhau. - Phát triển tư duy và sự sáng tạo: Bài tập cũng giúp HS phát triển tư duy và sự sáng tạo, khi phải tìm cách giải quyết các bài tập theo nhiều cách khác nhau. - Kiểm tra đánh giá: Bài tập cũng là công cụ để GV kiểm tra đánh giá năng lực, kỹ năng và kiến thức của HS. Tóm lại, bài tập có vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập của HS, giúp họ củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng và năng lực, phát triển tư duy và sự sáng tạo và được sử dụng để kiểm tra và đánh giá năng lực của HS.