CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH 1. Vị trí, vai trò của môn vật lí trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục 1. Vị trí của môn vật lí trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục Mục tiêu giáo dục của mỗi quốc gia phụ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của quốc gia đó. Ở từng giai đoạn phát triển của đất nước, nhà nước sẽ đưa ra những định hướng phát triển khác nhau, nên nhu cầu về con người (số lượng và chất lượng) phải phù hợp với giai đoạn phát triển đó.
Vì thế, mục tiêu giáo dục của mỗi quốc gia sẽ do nhà nước quy định nhằm đào tạo ra con người có đầy đủ phẩm chất, năng lực phù hợp với yêu cầu của xã hội lúc bấy giờ. Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hoà nhập với cộng đồng khu vực Đông Nam Á và thế giới. Trong bối cảnh đó, đổi mới giáo dục trở nên cấp thiết và được Đảng và nhà nước quan tâm. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) đã thông qua Nghị Quyết 29/NQ – TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Đáp ứng yêu cầu cấp bách ấy, mục tiêu giáo dục cũng được thể hiện rõ ở Điều 2 Luật Giáo dục 2019 (có hiệu lực từ 01/07/2020) quy định cụ thể như sau: “Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.” [3] Để đáp ứng mục tiêu giáo dục, ngày 27/3/2015, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Đề án đổi mới- chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, với mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kỹ năng đã học vào đời sống và khả năng lực tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển đất nước và nhân loại. Chương trình giáo dục phổ thông [1], [2] gồm: Chương trình giáo dục tiểu học, chương trình giáo dục trung học cơ sở, chương trình giáo dục trung học phổ thông. 7 Trong đó, bộ môn khoa học tự nhiên nói chung và môn vật lí nói riêng chiếm vị trí không nhỏ, có mặt xuyên suốt chương trình giáo dục phổ thông. Cụ thể như sau: Đối với cấp tiểu học: Môn vật lí là một phần trong môn học Tự nhiên và xã hội (đối với lớp 1, 2, 3) và là một phần trong môn Khoa học (đối với lớp 4, 5), cả hai môn đều chiếm 70 tiết/ năm học.
Đối với cấp trung học cơ sở: Môn Vật lí là một phần trong môn khoa học tự nhiên, được phát triển từ môn khoa học (ở lớp 4, 5) và là môn học bắt buộc, được dạy trong 35 tuần/năm học, chiếm 140 tiết/ năm học. Phân tích về nội dung chương trình môn KHTN, gồm 4 nội dung (Chất và biến đổi chất, Vật sống, Năng lượng và sự biến đổi vật lí, Trái Đất và bầu trời), thì nội dung kiến thức môn vật lí xuất hiện ở nội dung Năng lượng và sự biến đổi năng lượng và một phần trong nội dung Trái Đất và bầu trời. Ta thấy, vị trí môn vật lí chiếm phần lớn nội dung môn khoa học tự nhiên. Đối với cấp trung học phổ thông: Môn vật lí là môn học thuộc nhóm môn Khoa học tự nhiên, được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh, được dạy trong 35 tuần/ năm học, chiếm 70 tiết/ năm học.
Như vậy, vị trí của bộ môn khoa học tự nhiên (có bộ môn vật lí) có mặt từ đầu chương trình đến cuối chương trình giáo dục phổ thông, chiếm vị trí quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Vai trò của môn vật lí trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục Các mục tiêu giáo dục của trường phổ thông được thực hiện chủ yếu thông qua việc dạy học các môn học. Do đặc điểm của từng môn khác nhau nên mỗi môn học có vai trò khác nhau. Bên cạnh vai trò góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung cho HS, giáo dục khoa học tự nhiên (bao gồm môn Vật lí) có sứ mệnh hình thành và phát triển thế giới quan khoa học ở HS; đóng vai trò chủ đạo trong việc giáo dục học sinh tinh thần khách quan, tình yêu thiên nhiên, tôn trọng các quy luật tự nhiên để từ đó biết ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và môi trường.
Giáo dục khoa học tự nhiên giúp HS dần hình thành và phát triển năng lực khoa học tự nhiên qua quan sát và thực nghiệm, vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống; Đồng thời cùng các môn khác (Toán, Công nghệ, Tin học) thực hiện giáo dục STEM. [1] Nội dung giáo dục khoa học tự nhiên được phân chia theo hai giai đoạn [1]: Giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp - Giai đoạn giáo dục cơ bản: 8 • Ở cấp tiểu học, giáo dục khoa học tự nhiên tiếp cận một cách đơn giản một số sự vật, hiện tượng phổ biến trong cuộc sống hằng ngày, giúp HS có các nhận thức bước đầu về thế giới tự nhiên. • Ở cấp trung học cơ sở, giáo dục khoa học tự nhiên được thực hiện chủ yếu thông qua môn Khoa học tự nhiên với việc tích hợp các kiến thức, kỹ năng về vật lí, hóa học và sinh học. Các kiến thức kỹ năng được tổ chức theo các mạch nội dung bao gồm: chất và sự biến đổi chất, vật sống, năng lượng và sự biến đổi, trái đất và bầu trời.
Tất cả nội dung thể hiểu các nguyên lý, quy luật chung của thế giới tự nhiên (tính cấu trúc, sự đa dạng, sự tương tác, tính hệ thống, quy luật vận động và biến đổi), đồng thời từng bước phản ánh vai trò của khoa học tự nhiên đối với sự phát triển xã hội và sự vận dụng kiến thức, kỹ năng về khoa học tự nhiên trong sử dụng và khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững. Các nội dung này được sắp xếp chủ yếu theo logic tuyến tính kết hợp một số nội dung đồng tâm nhằm hình thành nhận thức về thế giới tự nhiên và khoa học tự nhiên, giúp học sinh bước đầu vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học về khoa học tự nhiên trong đời sống. - Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp Ở THPT, môn vật lí góp phần giúp HS tiếp tục phát triển năng lực khoa học tự nhiên dưới góc độ vật lí, vừa đảm bảo tri thức và kỹ năng trên nền tảng những năng lực chung và năng lực khoa học tự nhiên đã hình thành ở mỗi giai đoạn giáo dục cơ bản, vừa đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp vào một số ngành nghề cụ thể. Các năng lực lực vật lí được hình thành và phát triển, với các biểu hiện sau: • Có kiến thức, kỹ năng phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ vật lí; năng lượng và sóng; lực và trường • Vận dụng được một số kĩ năng tiến trình khoa học để khám phá, giải quyết vấn đề dưới góc độ vật lí • Vận dụng được một số kiến thức, kĩ năng trong thực tiễn, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường.
• Nhận biết được năng lực, sở trường của bản thân, định hướng được nghề nghiệp và có kế hoạch học tập, rèn luyện đáp ứng yêu cầu của định hướng nghề nghiệp. Phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong hoạt động học tập 1. Khái niệm năng lực Trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay, cụm từ “năng lực” được sử dụng phổ biến trong giáo dục. Tuy nhiên, để hiểu hết ý nghĩa của cụm từ này, chúng tôi đi tìm hiểu khái niệm năng lực ở một số nước.
Trên thế giới, một số khái niệm về năng lực được phát biểu như sau: F.Weinert (2001) cho rằng: “Năng lực là những kĩ năng kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”. [31] OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) đã xác định “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể”. [29] Đối với giáo dục, chương trình Giáo dục Trung học bang Québec, Canada năm 2004 xem “Năng lực có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của học sinh; những kỹ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác”[27], chương trình giáo dục của New Zealand lại xem năng lực đó là “một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó” [28] và chương trình giáo dục Indonesian cho rằng “Năng lực (competence) là những kiến thức (knowledge), kĩ năng (skills) và các giá trị (values) được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân.