CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 1. Quan niệm về năng lực, năng lực giải quyết vấn đề 1.
Năng lực Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, VĐ “năng lực” và “phát triển NL” cho HS được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là trước yêu cầu định hướng giáo dục mới (theo chương trình giáo dục phổ thông 2018). Theo nghĩa từ điển, NL là “điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó, là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”([25]. Theo nghĩa chung, “Năng lực (Capacity/Ability) là khả năng (hoặc tiềm năng) mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định. Tác giả Phạm Minh Hạc (1988) cho rằng: “Năng lực là một tổ hợp tâm lý của một người, tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy”[9].
Như vậy, mặc dù có nhiều cách hiểu về khái niệm năng lực, nhưng về cơ bản các nhà nghiên cứu giáo dục đồng thuận cao với quan niệm năng lực của một cá nhân là một tổ hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết của cá nhân đó để thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ cụ thể trong một bối cảnh cụ thể. 9 Trong luận văn này, chúng tôi đồng ý quan điểm theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (12/2018), “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [1]. Năng lực có một số đặc điểm cơ bản: + Năng lực là thuộc tính cá nhân của mỗi người.
+ Năng lực được hình thành, phát triển qua quá trình học tập, rèn luyện chứ không chỉ là tố chất sẵn có do di truyền. Vì vậy, năng lực có thể được hình thành và bồi dưỡng thông qua con đường dạy học. + Năng lực thể hiện ở sự hiểu biết, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, thói quen … trong từng lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, có tri thức, kĩ năng về một lĩnh vực nào đó không có nghĩa là có năng lực về lĩnh vực đó.
Như vậy, để bồi dưỡng, phát triển năng lực, ngoài trang bị tri thức, kĩ năng con người cũng cần bồi dưỡng thái độ, động cơ, ý chí,. bồi dưỡng thái độ tích cực, tinh thần sẵn sàng hành động. + Năng lực mang tính cụ thể, được bộc lộ qua hoạt động và đảm bảo hoạt động có hiệu quả. Do đó, năng lực được biểu hiện ra bên ngoài qua các hoạt động và ta có thể quan sát được, đánh giá được.
Nói một cách đơn giản, năng lực được đánh giá thông qua hoạt động. Điều này giải thích sự khác biệt giữa hiệu quả của các cá nhân trong cùng một hoạt động. Ta có thể đánh giá khả năng của một người thông qua việc người đó áp dụng kiến thức, kĩ năng trong những trường hợp cụ thể. Vấn đề và dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Theo I.
Lecne: “ Vấn đề là một câu hỏi nảy ra hay một tình huống được đặt ra cho chủ thể, mà chủ thể chưa biết lời giải từ trước và phải tìm tòi 10 sáng tạo lời giải, nhưng chủ thể đã có sẵn một số phương tiện ban đầu để sử dụng thích hợp vào việc tìm tời nó” [12]. Nguyễn Bá Kim cho rằng: “Một bài toán được gọi là một vấn đề nếu chủ thể chưa biết cách giải nào có thể áp dụng để tìm ra từ phần tử chưa biết, tìm ra kết quả của bài toán” [17]. Bất kỳ một nhiệm vụ toán học nào cũng có thể được phân loại thành một bài tập hoặc một vấn đề. Bài tập là một nhiệm vụ đã biết sẵn quy trình giải quyết; thông thường một bài tập có thể được giải bằng cách áp dụng trực tiếp một hoặc nhiều quy trình tính toán.
Chú ý rằng: Trong DH, theo Nguyễn Bá Kim [17], cùng một câu hỏi, cùng một bài toán nhưng với trình độ nhận thức, độ tuổi, trải nghiệm khác nhau thì vấn đề khác nhau. Bài toán yêu cầu học sinh tính thể tích của hình chóp tứ giác đều là một vấn đề khi học sinh chưa học công thức, nhưng lại là một vấn đề khi họ chưa được học công thức này. “Vấn đề” được hiểu theo nghĩa mở: Có thể chỉ là câu hỏi đơn giản (chẳng hạn như đối với HS lớp 1: Làm thế nào để cộng hai phân số khác mẫu?), cũng có thể lại là câu hỏi phức tạp - đòi hỏi quá trình giải quyết trả lời tương đối phức tạp. George Lenchner [48], có thể tiếp cận khái niệm “vấn đề” theo cách khác: Xem vấn đề ở phạm vi rộng hơn và phức tạp hơn so với bài toán: Đối với một vấn đề lớn thì chiến lược giải quyết có thể không rõ ràng ngay lập tức; giải quyết vấn đề đòi hỏi một mức độ sáng tạo hoặc độc đáo nào đó từ phía người giải quyết vấn đề.
Hãy xem một ví dụ: giả sử bạn đang nói chuyện với lớp về một bộ sưu tập đồng xu bao gồm ba đồng xu 5c, hai đồng xu 10c và một đồng xu 20c. Trước khi tiếp tục, hãy dừng lại một chút để ghi lại một số câu hỏi bạn có thể hỏi. Một số câu hỏi có thể đưa ra như sau: 11 Hình 1.1 Một số đồng xu của Mỹ (ảnh sưu tầm: Internet) 1. Có bao nhiêu đồng xu trong bộ sưu tập? 2.
Tổng giá trị của bộ sưu tập tính bằng xu là bao nhiêu? Bằng đô la là bao nhiêu? 3. Trong các bộ tiền khác nhau, bộ tiền nào có giá trị lớn nhất? bộ tiền nào có giá trị nhỏ nhất? 4. Có thể kiếm được bao nhiêu số tiền khác nhau bằng cách sử dụng một hoặc nhiều đồng tiền từ bộ sưu tập này? 5. Có thể tạo ra bao nhiêu cách kết hợp khác nhau của một hoặc nhiều đồng xu bằng cách sử dụng các đồng xu trong bộ sưu tập này? 6.
Có bao nhiêu tổ hợp khác của đồng xu 1c, 4c và 5c có cùng giá trị với bộ sưu tập đã cho? Ta thấy rằng ba câu hỏi đầu tiên được liệt kê có chất lượng khác với ba câu hỏi cuối ở chỗ chúng ta có thể được giải quyết bằng cách kiểm tra đơn giản hoặc bằng cách sử dụng thuật tính toán. Chúng tôi coi ba câu hỏi đầu tiên là bài tập. Đối với ba câu hỏi cuối, không có quy trình giải quyết thông thường nào được áp dụng; người phải đối mặt với những câu hỏi này, phải xác 12 định một chiến lược giải quyết thích hợp trước khi thực sự tiến hành giải quyết. Chúng tôi phân loại những câu hỏi này là vấn đề.
Từ phân tích nêu trên, chúng tôi thống nhất quan niệm: “Vấn đề là một câu hỏi, nhiệm vụ mà chủ thể không thể dễ dàng trả lời nhanh câu hỏi hoặc thực hiện ngay nhiệm vụ mà phải suy nghĩ, vượt khó để huy động tìm kiếm kiến thức, phương pháp mới giải quyết được, chủ thể chưa biết cách giải quyết nhưng có đủ kiến thức và kĩ năng cần thiết để giải quyết”. Các vấn đề có thể được giải quyết bằng nhiều cách khác nhau và không có cách nào trong số này là phù hợp để giải quyết mọi vấn đề. Tuy nhiên, học sinh thường thấy hữu ích khi có ít nhất một khuôn khổ chung để các em có thể tổ chức nỗ lực của mình. Trong cuốn sách kinh điển Giải một bài toán như thế nào? G.Polya [27] đã phác thảo bốn bước chủ yếu để tiến hành giải bài toán - cũng có thể xem như câu trả lời cho việc “Làm thế nào để giải quyết vấn đề” trong phạm vi học Toán.
Tìm hiểu vấn đề Lập kế hoạch giải quyết vấn đề Thực hiện kế hoạch Nhìn lại quá trình GQVĐ Quy trình chung để giải quyết một vấn đề được Nguyễn Bá Kim và các tác giả (trong [17]) phân tích chỉ rõ “tiếp cận phát hiện vấn đề phát hiện hướng giải quyết thực hiện GQVĐ đánh giá lại”. Quá trình GQVĐ đã được các nhà giáo dục trên thế giới và ở Việt Nam nghiên cứu xem như một xu hướng (kiểu, PP) DH không truyền thống. Có thể kể đến những công trình của Ô Kôn ([24]), Lecne [12], Nguyễn Bá Kim [16]. Trong đó, đặc trưng của kiểu DH này là chứa đựng tình huống gợi vấn đề do GV thiết kế và tổ chức HS xâm nhập vào tình huống để phát hiện ra vấn đề, tìm cách GQVĐ và đánh giá toàn bộ quá trình GQVĐ.
Cụ thể, Nguyễn Bá Kim [17] đưa ra quy trình 4 bước thực hiện DH GQVĐ như sau: 13 Bước 1: Phát hiện hoặc thâm nhập vấn đề Bước 2. Tìm giải pháp Bước 3. Trình bày giải pháp Bước 4. Nghiên cứu sâu giải pháp 1.
Năng lực giải quyết vấn đề Theo OECD [50], “giải quyết vấn đề được hiểu là quá trình nhận thức để hiểu và giải quyết các tình huống có vấn đề mà chưa có ngay giải pháp rõ ràng. Nó bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào các tình huống tương tự để đạt được tiềm năng của mình như một công dân có tính xây dựng và biết suy nghĩ”.Polya khẳng định: “giải quyết vấn đề có nghĩa là tìm cách thoát khỏi khó khăn, cách giải quyết một trở ngại, đạt được một mục tiêu mà không thể đạt được ngay lập tức” (G. Theo Chương trình đánh giá HS quốc tế - PISA (2012) của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), “năng lực GQVĐ là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết tình huống vấn đề khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng. Nó bao gồm sự tự nguyện tham gia GQVĐ, qua đó thể hiện tiềm năng là công dân tích cực và xây dựng” [50].
Nguyễn Lộc và Nguyễn Thị Lan Phương (2016) quan niệm "Năng lực GQVĐ là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, xúc cảm để giải quyết những tình huống vấn đề mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường" [19]. Như vậy, năng lực GQVĐ của một cá nhân được bộc lộ trong quá trình cá nhân đó giải quyết các tình huống có vấn đề (tình huống vấn đề).