đặt vấn đề cải cách, tái phân phối ruộng đất ở các nước nông nghiệp. Tương tự, Feder (1985) (dẫn theo [104]) cho thấy những hộ nông dân nhỏ có hiệu quả lao động cao, do đó đạt năng suất cao hơn. Ông cũng giải thích các IR là do sự thất bại của thị trường tín dụng nông thôn, lao động và đất đai cũng như bởi sự khác biệt về nguồn lực lao động giữa TT nhỏ và lớn. Ông cho rằng “những cộng đồng nông nghiệp gần các thành phố mà ở đó tập trung các TT tập thể quy mô lớn đã chết dần chết mòn”.
Sở dĩ có tình trạng này là vì tại vùng ven các thành phố, các khoản thu nhập kiếm được từ hoạt động nông nghiệp đã bị rút ra khỏi khu vực nông thôn để đầu tư vào các xí nghiệp công nghiệp tại các thành phố. Trong khi đó, tình hình lại hoàn toàn khác tại các thành phố được bao quanh bởi các TT gia đình quy mô nhỏ với thu nhập chủ yếu được lưu chuyển giữa các cơ 1 sở kinh doanh ngay trong địa phương. Chính điều này đã tạo ra việc làm và sự thịnh vượng cho cộng đồng dân cư nông thôn tại các khu vực đó. Từ đó, ông khẳng định rằng, ở đâu, TT gia đình quy mô nhỏ phát triển mạnh thì ở đó TT phát triển bền vững hơn.
Ở Mỹ, các TT nhỏ đóng góp 17% đất đai của họ để trồng rừng, trong khi các TT lớn chỉ có 5%. Cũng nghiên cứu về hiệu quả của loại hình quy mô TT nhưng lại có kết luận khác các tác giả trên là nghiên cứu của Sridhar Thapa (2007) [111]. Ông đi sâu phân tích mối quan hệ giữa quy mô TT và năng suất qua việc nghiên cứu TT ở vùng đồi Terai thuộc miền nam Nepal. Theo đó, ở Terai, phần lớn nông dân sở hữu dưới 1 ha đất TT nhưng năng suất cây trồng cao.
Nguyên nhân không phải là do phân phối lại, chia nhỏ đất đai mà là nhờ đầu tư cơ sở hạ tầng và công nghệ. Chính cơ sở hạ tầng và công nghệ mới đã làm tăng hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố đầu vào của sản xuất. Điều này đúng cho cả các TT quy mô nhỏ và vừa. Vậy, cái gọi là IR mà các nhà khoa học đưa ra trước đây không còn đúng cho trường hợp Nepal hiện nay nữa.
Cùng xu hướng đánh giá của Sridhar Thapa, trước đó, đã có các tác giả Bhandari (2006) [84], Fan và Chan-Kang (2005) [91], Bhalla và Roy (1988) [83], Newell et al (1997) [100], Bardhan (1973) [82], họ lập luận rằng nguyên nhân của IR khác biệt giữa các vùng, miền nằm ở chất lượng đất chứ không phải ở quy mô TT; Cornia (1985) [86] thì phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào, sản lượng và năng suất lao động ở các TT có quy mô khác nhau ở 15 quốc gia đang phát triển như Bangladesh, Peru,. Họ đưa ra nhiều lí do giải thích cho sự khác nhau về hiệu quả sản xuất, kinh doanh của TT nhưng đều có chung quan điểm: không phải cứ TT quy mô nhỏ thì hiệu quả sản xuất sẽ cao hơn TT quy mô lớn. Riêng Deolalikar (1983) [87] thì đã vượt lên trước giới hạn tư tưởng trong thời đại của mình để khẳng định: các IR có thể bị loại bỏ hoàn toàn ở một mức độ cao hơn của công nghệ nông nghiệp. Một nghiên cứu gần đây về Uganda của Nkonya et al [101] chỉ rõ tác động của đầu vào lao động, trang thiết bị và một loạt các yếu tố khác, bao gồm cả chất lượng đất cho thấy không chỉ năng suất đất đai mà tổng năng suất ở các TT lớn đều cao hơn ở những TT nhỏ.
Ông chứng minh kết luận này thật sự là có cơ sở trong bối cảnh khoa học kĩ thuật và thương mại nông nghiệp phát triển như hiện nay. Kết luận tương tự cũng được tìm thấy trong tác phẩm của Eswaran – Kotwal [89]. Như vậy, các nhà nghiên cứu hiện nay đều có quan điểm chung: IR chỉ còn đúng trong nền nông nghiệp truyền thống ở các nước chậm phát triển (vốn phổ biến 1 trước năm những 1980). Ngày nay, những đổi thay nhanh chóng về công nghệ canh tác và thương mại đã làm thay đổi nhận thức về hiệu quả của TT nhỏ, IR dần giảm đi và biến mất.
Xu hướng biến đổi như thế sẽ hướng các chủ TT chú ý nhiều đến các yếu tố đầu vào như máy móc, phân bón, giống mới,…; các yếu tố đầu ra như chế biến, thị trường,… hơn là các yếu tố số lượng lao động hay diện tích TT. Nó cũng đặt các TT nhỏ vào thế không thể cạnh tranh, đặc biệt là về trình trình độ phát triển của đầu vào công nghệ (vốn đòi hỏi sự đầu tư vượt xa năng lực của chúng). - Nghiên cứu về cách thức tổ chức sản xuất, kinh doanh trang trại Bucket M. (1993) [3] đã đề cập đến những nguyên lý cơ bản trong quản lý, điều hành TT gia đình theo mô hình sản xuất hàng hóa.
Cụ thể, quản lý một TT về cơ bản không khác quản lý một doanh nghiệp. Tuy nhiên, do đặc thù của sản phẩm nông nghiệp là quá trình sản xuất phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nông sản thường nhanh hư hỏng nên việc quản lý TT phức tạp hơn rất nhiều so với việc điều hành một doanh nghiệp công nghiệp. cho rằng, các cơ quan quản lý, các hiệp hội cần đặc biệt chú trọng công tác đào tạo và huấn luyện về kỹ năng quản lý cho những người chủ TT. Lamb [105] cho rằng, TT mới là sản phẩm của hai lực lượng: hợp nhất, tập trung hóa sản xuất nông nghiệp để giảm chi phí và liên kết giữa các công ty chế biến thực phẩm và sản xuất nông nghiệp thông qua hợp đồng hoặc hội nhập theo chiều dọc.
Như vậy, hình thức sở hữu mới và kiểm soát các liên kết chặt chẽ giữa các TT với các bàn ăn gia đình (thành chuỗi cung ứng) đang thay thế thị trường hàng hóa. Khi bàn về xu hướng TT ở các nước đang phát triển thời toàn cầu hóa, Reardon et al (2001) [103], đưa ra lập luận về 3 biểu hiện của công cuộc tự do toàn cầu hóa là: sự gia tăng vai trò của các nhà phân phối bán lẻ, việc phân cấp sản phẩm, tiêu chuẩn phân cấp và nền nông nghiệp thô sơ. Ba biểu hiện này đang có xu hướng ủng hộ việc dồn điền, tăng diện tích hoặc thông qua việc ưu tiên các TT nhỏ với chính sách ưu đãi, chuyển giao công nghệ hoặc kết nối các TT nhỏ với nhau. Ông nhấn mạnh: toàn cầu hóa bản chất là mở rộng huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thông qua việc phát triển các nhà phân phối bán lẻ, gia tăng sự tham gia của các công ty đa quốc gia tại các nước đang phát triển và hoạt động dựa trên các chuỗi liên kết.
Những nội dung tương tự cũng được tìm thấy trong tác phẩm của Frank Ellis (1992) [90]. 1 Vấn đề tổ chức sản xuất TT trong thời toàn cầu hóa còn được tìm thấy trong nghiên cứu của Von Oppen và cộng sự (2003) [112]. Nội dung chính của nghiên cứu này là vấn đề phát triển thị trường nông sản. Theo đó, hệ thống marketing hiệu quả sẽ gửi tín hiệu giá tới các TT, từ đó chỉ ra hướng phân bổ nguồn lực sản xuất.
Đối với người sản xuất, thị trường tác động tới việc hình thành quá trình chuyên môn hoá hoặc đa dạng hoá khi có lợi thế so sánh. Thu nhập từ việc chuyên môn hoá tạo ra khả năng thâm canh thông qua việc sử dụng các yếu tố đầu vào và áp dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến làm tăng năng suất. Ở Việt Nam - Các công trình nghiên cứu về trang trại ở Việt Nam Công trình nghiên cứu công phu và đồ sộ nhất về TT ở nước ta cho đến nay là “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” do Nguyễn Đình Hương làm chủ nhiệm (2000) [29]. Ông đã hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận về kinh tế TT, khái quát lịch sử phát triển TT ở Việt Nam và một số nước khác, xác định khả năng và các điều kiện phát triển các loại hình TT, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp và các kiến nghị về chính sách phát triển TT trong thời kỳ CNH-HĐH ở nước ta.
Lê Trọng (1994) [74] lại quan tâm đến vấn đề hợp tác của các TT với các đối tượng kinh tế liên quan trong kinh tế thị trường. Ông cho rằng: Sự hình thành và phát triển của TT là quá trình phát triển theo hướng chuyên môn hóa sản xuất. Trong đó, một số khâu có thể được tách ra khỏi hoạt động của TT (như cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm) thành các đơn vị, tổ chức kinh tế khác. Để đảm bảo hoạt động của cả TT và các tổ chức kinh tế đó, sự liên kết, hợp tác ra đời.
Sự liên kết còn diễn ra giữa các TT nhằm giải quyết các vấn đề như thủy lợi, tiêu thụ sản phẩm,. Ở một khía cạnh khác, ông bàn đến vấn đề phát triển và quản lý TT trong kinh tế thị trường [75]. Nghiên cứu được ông cụ thể hóa trong một số mô hình lựa chọn và rút ra những bài học kinh nghiệm về phát triển và quản lý TT. Từ đó đưa ra những phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển TT trong thời gian tới.
Trần Đức (1995) [21] chia các TT theo 3 nhóm mô hình lớn là TT ít ruộng đất, TT nhiều ruộng đất, TT chăn nuôi và phân tích ưu, khuyết điểm cũng như xu hướng vận động, điều kiện và biện pháp phát triển từng loại ở Việt Nam. Tác giả đặc biệt tâm đắc với mô hình TT ít ruộng đất ở Đồng bằng sông Hồng và giới thiệu một số TT thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Với diện tích một vài sào Bắc bộ/TT, nhờ người chủ khéo sắp xếp, đa dạng hóa các loại vật nuôi, cây trồng và 1 nhạy bén với cơ chế thị trường mà với thời gian đấu thầu ngắn khoảng 20 năm, các TT đều làm ăn phát đạt, mang lại thu nhập cao cho gia đình và làm mẫu hình cho nhiều hộ nông dân khác. Từ đó, ông khẳng định hoàn toàn có thể phát triển tốt TT trong điều kiện đất chật người đông.
Ở nhóm mô hình TT nhiều ruộng đất, TT chăn nuôi, tác giả cũng đều giới thiệu các TT điển hình ở các vùng, miền để khẳng định khả năng thích ứng cao của TT với nhiều điều kiện sản xuất khác nhau.