Tổng quan luận án

Công trình Phát triển trang trại ở vùng Đông Nam Bộ là luận án tiến sĩ chuyên ngành Địa lí học (mã số: 62.01, định hướng chuyên sâu Địa lý Kinh tế - Xã hội) của nghiên cứu sinh Lã Thúy Hường, thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đỗ Thị Minh Đức và PGS. Phạm Xuân Hậu.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Kinh tế trang trại tại Việt Nam hình thành và gia tăng nhanh từ đầu thập niên 1990, đóng vai trò tích cực trong khai thác đất hoang hóa, huy động vốn xã hội, xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn. Tại vùng Đông Nam Bộ, mô hình trang trại ghi nhận sự phát triển vượt bậc về số lượng lẫn hiệu quả. Năm 2014, vùng Đông Nam Bộ tập trung 20,7% tổng số lượng trang trại, 38,6% tổng diện tích và chiếm tới 44,5% tổng doanh thu trang trại của cả nước. Trong nội bộ ngành nông nghiệp vùng, dù đất trang trại chỉ chiếm 2,72% tổng diện tích đất nông nghiệp, lao động trang trại chiếm 2,62% và số hộ làm trang trại chỉ chiếm 0,39% tổng số hộ sản xuất nông nghiệp, nhưng khu vực này đóng góp đến 14% tổng giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp Đông Nam Bộ.

Mặc dù có những chỉ số vượt trội, sự phát triển trang trại tại Đông Nam Bộ vẫn bộc lộ tính tự phát, thiếu quy hoạch đồng bộ, chạy theo số lượng và chưa tương xứng với tiềm năng sinh thái - kinh tế của vùng. Thị trường vật tư đầu vào và tiêu thụ đầu ra chưa ổn định; các cơ chế chính sách về hạn điền, giao đất, cho thuê đất, tiếp cận vốn tín dụng còn nhiều bất cập, chưa tạo xung lực đủ mạnh để thúc đẩy sản xuất hàng hóa quy mô lớn và bền vững. Đa phần các nghiên cứu trước đây về kinh tế trang trại ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào khu vực trung du, miền núi phía Bắc với mục tiêu phủ xanh đất trống đồi trọc và giải quyết việc làm xóa đói giảm nghèo, hoặc các công trình nghiên cứu ở Nam Bộ chỉ tiếp cận cục bộ ở cấp tỉnh riêng lẻ hay phạm vi một loại nông sản. Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu bằng việc đánh giá toàn diện, có hệ thống sự phát triển và tổ chức lãnh thổ của kinh tế trang trại trên toàn địa bàn Đông Nam Bộ dưới góc độ phân tích địa lý kinh tế - xã hội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ sự phát triển trang trại ở vùng Đông Nam Bộ dưới góc độ địa lí học; tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng, đánh giá thực trạng phát triển và phân bố không gian của trang trại, từ đó đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển theo hướng bền vững.

Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển trang trại, vận dụng vào điều kiện không gian lãnh thổ vùng Đông Nam Bộ.
  2. Phân tích các nhân tố tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển và phân bố trang trại ở vùng Đông Nam Bộ.
  3. Đánh giá thực trạng phát triển trang trại ở vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2006 - 2014 về quy mô, loại hình, nguồn lực đầu vào, kết quả sản xuất kinh doanh và kênh phân phối nông sản.
  4. Xác lập các định hướng và đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển trang trại vùng Đông Nam Bộ theo hướng bền vững đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hình thức tổ chức sản xuất kinh tế trang trại, trọng tâm là trang trại gia đình thuộc các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ vùng Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh và thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu và Tây Ninh. Nghiên cứu thực địa khảo sát chọn mẫu 300 trang trại tại 9 huyện đại diện: Bến Cầu, Tân Biên (Tây Ninh), Hớn Quản (Bình Phước), Phú Giáo (Bình Dương), Thống Nhất (Đồng Nai), Châu Đức (Bà Rịa - Vũng Tàu), Bình Chánh, Cần Giờ, Củ Chi (TP. Hồ Chí Minh).
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá hiện trạng chủ yếu trong giai đoạn 2006 - 2014. Do năm 2011 có sự điều chỉnh tiêu chí phân loại trang trại của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số liệu được phân kỳ thành 2 giai đoạn: 2006 - 2011 và 2011 - 2014. Các định hướng và giải pháp được xác định cho giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Vấn đề kinh tế trang trại được nhiều tác giả quốc tế nghiên cứu ở các khía cạnh mô hình tổ chức, quy mô diện tích, năng suất và chuỗi cung ứng:

  • Về mô hình và tổ chức quản lý: Johnston và Kilby (1975), F.A. Connugin đã tổng kết các loại hình nông trại tại Mỹ, chỉ ra rằng việc tổ chức nông trại chịu sự chi phối chặt chẽ bởi điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất và liên kết thị trường. Bucket M. (1993) phân tích các nguyên lý điều hành trang trại gia đình, nhấn mạnh quản lý trang trại phức tạp hơn doanh nghiệp công nghiệp do tính phụ thuộc vào sinh vật sống và tự nhiên.
  • Về biến động số lượng và quy mô: Robert Eastwood, Michael Lipton và Andrew Newell (2010) nhận định có sự phân hóa quốc tế về quy mô trang trại: quy mô trang trại rất nhỏ tại châu Phi, Đông Nam Á và Đông Á (phần lớn dưới 2 ha), trong khi tại các nước phát triển như châu Âu và Bắc Mỹ, quy mô thường trên 10 ha. Sokoloff và Engermannm (2002) chỉ ra sự sụt giảm số lượng và mở rộng quy mô trang trại tại Mỹ sau sự kiện Homestead 1862 đến thế kỷ XX. Sarah K. Lowder, Jakob Skoet và Saumya Singh (2014) thống kê thế giới có khoảng 570 triệu trang trại, trong đó 75% có diện tích dưới 2 ha nhưng chỉ chiếm 7% diện tích đất nông nghiệp toàn cầu; ngược lại, nhóm trên 2 ha chiếm 25% số lượng nhưng nắm giữ 93% diện tích canh tác. Schultz (1964) phân tích trở ngại từ tình trạng đất đai manh mún và vai trò của tích tụ ruộng đất.
  • Về mối quan hệ giữa quy mô và hiệu quả sản xuất: Sen (1962, 1966) phát hiện mối quan hệ nghịch đảo (Inverse Relationship - IR) giữa quy mô diện tích và năng suất nông nghiệp tại Ấn Độ, lập luận rằng trang trại quy mô nhỏ đạt năng suất cao hơn nhờ chi phí giám sát lao động gia đình thấp. Feder (1985) củng cố quan điểm này thông qua phân tích khiếm khuyết thị trường tín dụng và đất đai nông thôn. Ngược lại, Sridhar Thapa (2007) khảo sát tại Terai (Nepal) chứng minh quan hệ IR không còn tồn tại khi có sự can thiệp của hạ tầng kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Các tác giả Deolalikar (1983), Cornia (1985), Bhalla và Roy (1988), Bardhan (1973), Fan và Chan-Kang (2005), Bhandari (2006), Nkonya và cộng sự (tại Uganda), Eswaran - Kotwal đều khẳng định hiệu quả sản xuất phụ thuộc vào chất lượng đất đai, trang thiết bị kỹ thuật và ứng dụng khoa học hơn là quy mô diện tích thuần túy.
  • Về chuỗi giá trị và thương mại nông sản: Lamb, Frank Ellis (1992), Reardon và cộng sự (2001) làm rõ xu thế hội nhập theo chiều dọc giữa nông dân và các tập đoàn bán lẻ trong bối cảnh toàn cầu hóa. Von Oppen và cộng sự (2003) phân tích vai trò của tín hiệu giá thị trường trong việc định hướng cơ cấu chuyên môn hóa hoặc đa dạng hóa của trang trại.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

  • Cấp quốc gia và lý luận chung: Công trình của Nguyễn Đình Hương (2000) hệ thống hóa lý luận kinh tế trang trại và định hướng chính sách trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Lê Trọng (1994, 1995) phân tích sự phân công lao động, các mô hình hợp tác và liên kết kinh tế giữa trang trại và hợp tác xã. Trần Đức (1995, 1998) phân loại các mô hình trang trại quy mô ít ruộng đất ở Đồng bằng sông Hồng và trang trại vùng đồi núi, khẳng định tính linh hoạt của trang trại quy mô nhỏ khi đa dạng hóa cây con. Nguyễn Đức Thịnh (2000), Hoàng Việt (2000), Nguyễn Sinh Cúc (2003), Báo cáo tổng kết của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2004), Đào Hữu Hòa (2006) tiếp cận kinh tế trang trại từ góc độ chính sách hỗ trợ, tín dụng, chuyển giao kỹ thuật và phát triển bền vững. Nguyễn Viết Thịnh (2009) chủ trì đề tài cấp Bộ B2004-75-107 phân tích kinh tế trang trại từ góc độ địa lí kinh tế và sinh thái, ứng dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất.
  • Cấp địa phương: Phạm Hồng Chương (2007) nghiên cứu tại Quảng Bình; Phạm Văn Khôi (2011) nghiên cứu trang trại vùng cây ăn quả tại Bắc Giang; Nguyễn Thị Mỹ (2011) nghiên cứu trang trại trồng trọt tại Bình Định; các luận án tiến sĩ của Đinh Văn Hải (2004), Nguyễn Khắc Hoàn (2006), Phạm Bằng Luân (2007), Tô Thị Hậu (2007), Lê Xuân Lãm (2012), Nguyễn Thị Trang Thanh (2012) tập trung vào các khía cạnh tài chính, tín dụng, quốc phòng hoặc tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tại các tỉnh miền Trung và miền Bắc.
  • Khu vực Nam Bộ và Đông Nam Bộ: Trương Thị Minh Sâm (2002) nghiên cứu kinh tế trang trại khu vực Nam Bộ nhưng địa bàn nghiên cứu gộp cả các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (Bình Thuận, Ninh Thuận, Lâm Đồng). Kỷ yếu đề tài cấp Bộ (1999) gồm các bài viết của Hồ Trọng Viện, Nguyễn Văn Tuất, Nguyễn Xuân Quang, Phạm Hùng, Lê Hồng Tiễn, Nguyễn Văn Dũng chỉ phản ánh hiện trạng phân tán, mang tính thời điểm của từng tỉnh. Trịnh Thanh Sơn (2004) nghiên cứu tổ chức lãnh thổ cây sắn ở Đông Nam Bộ dưới góc độ chuỗi giá trị nhưng không bao quát toàn diện các loại hình trang trại.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Các công trình tại Việt Nam phần lớn tập trung vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo ở vùng trung du miền núi, chưa nghiên cứu sâu về vai trò tạo giá trị thặng dư hàng hóa lớn và làm giàu ở các vùng nông nghiệp công nghệ cao. Tại vùng kinh tế động lực Đông Nam Bộ, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện sự phát triển kinh tế trang trại dưới góc độ địa lí kinh tế - xã hội. Luận án giải quyết khoảng trống này qua việc phân tích cấu trúc lãnh thổ, tương quan giữa các yếu tố đầu vào - đầu ra, và kiểm chứng các quy luật kinh tế (như quan hệ quy mô - suất đầu tư) trên cơ sở dữ liệu điều tra thực địa 300 trang trại tại vùng Đông Nam Bộ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại: Luận án tiếp cận khái niệm trang trại từ Nghị quyết 03/2000/NQ-CP và định nghĩa của các nhà khoa học (Michael Lipton, Đào Công Tiến, Hoàng Việt, Đỗ Hoài Nam). Tác giả đưa ra định nghĩa: Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, được hình thành và quản lý bởi chủ trang trại; sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tập trung lớn, có thuê mướn lao động, cách thức tổ chức quản lý tiến bộ, trình độ kỹ thuật cao. Luận án xác định đối tượng tập trung là trang trại gia đình.
  • Tiêu chuẩn phân loại và tiêu chí đánh giá: Luận án sử dụng các tiêu chí pháp lý từ Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNNPTNT-TCTK (giai đoạn 2006 - 2010) và Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT (giai đoạn 2011 - 2014) dựa trên hai chỉ tiêu cốt lõi: quy mô diện tích canh tác và giá trị sản lượng hàng hóa bán ra hàng năm.
  • Khung tiêu chí đánh giá định lượng: Luận án xác lập hệ thống 14 công thức tính toán kinh tế cụ thể để xử lý dữ liệu điều tra:
STT Tên chỉ tiêu đánh giá Ký hiệu / Đơn vị Phương pháp xác định / Công thức
1 Tổng giá trị sản lượng hàng năm trung bình $GTSL$ (triệu đồng/TT) Tổng doanh thu từ sản phẩm chính, sản phẩm thứ cấp và sản phẩm khác trong trang trại
2 Tổng sản phẩm hàng hóa bán ra hàng năm $GTHH$ (triệu đồng/TT) Tổng giá trị thực tế của các loại nông sản bán ra thị trường
3 Tổng vốn huy động một năm $V$ (triệu đồng) Tổng vốn lưu động huy động trong năm của các trang trại khảo sát: $V = \sum V_i$
4 Vốn đầu tư bình quân 1 ha $V_{TB}$ (triệu đồng/ha) Tổng vốn đầu tư lưu động bình quân một năm chia cho diện tích đất bình quân
5 Doanh thu bình quân một trang trại $Q_{TB}$ (triệu đồng/TT) Tổng doanh thu của toàn bộ các trang trại khảo sát chia cho tổng số trang trại ($N$)
6 Hiệu quả sản xuất trên một trang trại $H_{TT}$ (triệu đồng/TT) Giá trị sản xuất thu được bình quân trên một trang trại trong năm
7 Hiệu quả sản xuất trên diện tích đất $H_{DT}$ (triệu đồng/ha) Tổng giá trị thu được chia cho tổng diện tích đất canh tác của các trang trại
8 Lợi nhuận trong năm $P$ (triệu đồng) Hiệu số giữa tổng doanh thu ($Q$) và tổng chi phí đầu tư lưu động ($V$) trong năm
9 Doanh thu trên vốn $Q_V$ (đồng) Tổng doanh thu tạo ra chia cho tổng vốn đầu tư lưu động trong năm
10 Lợi nhuận trên vốn $P_V$ (đồng) Tổng lợi nhuận thu được chia cho tổng vốn đầu tư lưu động trong năm
11 Bình quân lợi nhuận trên một trang trại $P_{TB}$ (triệu đồng/TT) Tổng lợi nhuận chia cho tổng số trang trại khảo sát ($N$)
12 Bình quân lợi nhuận trên diện tích đất $P_{DT}$ (triệu đồng/ha) Tổng lợi nhuận thu được chia cho tổng diện tích đất của các trang trại khảo sát ($D$)
13 Tỉ số lợi nhuận trên vốn $P/V$ (%) Tỷ lệ phần trăm giữa tổng lợi nhuận thu được so với tổng vốn đầu tư
14 Tỉ số lợi nhuận trên tổng giá trị sản lượng $P/SL$ (%) Tỷ lệ phần trăm giữa tổng lợi nhuận thu được so với tổng giá trị sản lượng

Quan điểm nghiên cứu địa lý

Luận án quán triệt 5 quan điểm khoa học chuyên ngành:

  1. Quan điểm hệ thống: Nhìn nhận trang trại như một phân hệ trong nền kinh tế nông nghiệp, bao gồm các tiểu hệ sinh thái sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, tổng hợp).
  2. Quan điểm lãnh thổ: Xem xét không gian kinh tế trang trại trong mối liên kết hữu cơ với không gian đô thị, khu công nghiệp và thị trường tiêu thụ của vùng Đông Nam Bộ.
  3. Quan điểm tổng hợp: Kết hợp đánh giá đa chiều giữa các nhân tố tự nhiên (đất, nước, khí hậu) và các nhân tố kinh tế - xã hội (vốn, thị trường, chính sách, công nghệ).
  4. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Khảo sát hiện trạng trong tiến trình biến đổi lịch sử giai đoạn 2006 - 2014 và dự báo xu thế phát triển đến năm 2030.
  5. Quan điểm phát triển bền vững: Cân bằng giữa hiệu quả kinh tế, bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái nông thôn và đảm bảo an sinh xã hội.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Sử dụng dữ liệu thứ cấp từ Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp và Thủy sản năm 2006, 2011; số liệu thống kê trang trại năm 2014 của Cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn; Niên giám thống kê các tỉnh Đông Nam Bộ. Thu thập tài liệu sơ cấp thông qua điều tra chọn mẫu.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp 300 chủ trang trại tại 9 huyện trọng điểm thuộc 6 tỉnh, thành phố Đông Nam Bộ. Cơ cấu mẫu khảo sát bao gồm: 133 trang trại trồng trọt, 150 trang trại chăn nuôi và 17 trang trại nuôi trồng thủy sản. Mẫu đại diện cho cả vùng chuyên canh tập trung (Tân Biên, Hớn Quản, Thống Nhất) và các địa bàn có số lượng trang trại đặc thù (Bình Chánh, Cần Giờ, Châu Đức).
  • Phương pháp thống kê học: Sử dụng phần mềm SPSS và Microsoft Excel để xử lý các bảng dữ liệu chéo, phân tích tương quan giữa quy mô diện tích và suất đầu tư vốn/ha, xây dựng biểu đồ phân phối xác suất và đồ thị thanh sai số (Error Bar).
  • Phương pháp bản đồ và Hệ thống thông tin địa lý (GIS): Sử dụng phần mềm MapInfo và ArcGIS để số hóa, xử lý dữ liệu không gian, xây dựng hệ thống bản đồ chuyên đề ở tỷ lệ 1:1.000.000 (bản đồ hành chính, bản đồ khí hậu, bản đồ phân bố trang trại các năm 2011, 2014) và bản đồ các loại đất chính ở tỷ lệ 1:400.000.
  • Phương pháp chuyên gia: Tổ chức tham vấn ý kiến các chuyên gia kinh tế, các nhà khoa học thuộc Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Nam, cán bộ quản lý Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh Đông Nam Bộ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển trang trại

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về bản chất kinh tế, các thuộc tính cơ bản và phân loại trang trại trên thế giới và tại Việt Nam. Trang trại được phân loại theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất (sở hữu toàn bộ, sở hữu một phần, thuê mướn hoàn toàn), theo cơ cấu sản xuất (chuyên môn hóa: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp; kinh doanh tổng hợp), theo tính chất thu nhập (thuần nông và phi thuần nông), và theo phương thức điều hành sản xuất.

Chương này phân tích các tiêu chí xác định trang trại của Việt Nam qua hai mốc văn bản pháp quy quan trọng: Thông tư liên tịch 69/2000/TTLT/BNNPTNT-TCTK và Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT, chỉ ra sự nâng cao về ngưỡng giá trị hàng hóa và quy mô diện tích nhằm phản ánh đúng bản chất sản xuất hàng hóa tập trung. Về mặt thực tiễn, tác giả tổng kết quá trình chuyển biến trang trại thế giới: sự suy giảm của mô hình trang trại quy mô lớn dùng nhiều lao động làm thuê sang mô hình trang trại gia đình hiện đại gắn với cơ giới hóa, hóa học hóa và liên kết chuỗi giá trị. Tác giả cũng chỉ ra rằng quan hệ nghịch đảo giữa quy mô và năng suất (IR) đã dần bị xóa bỏ trong nền nông nghiệp hiện đại nhờ sự can thiệp của khoa học công nghệ và cơ sở hạ tầng.

Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển trang trại ở vùng Đông Nam Bộ

Chương 2 đánh giá cụ thể các lợi thế so sánh và lực cản phát triển kinh tế trang trại vùng Đông Nam Bộ theo hai nhóm nhân tố:

  • Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên:
    • Vị trí: Nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, giáp Tây Nguyên (vùng nguyên liệu lớn), Đồng bằng sông Cửu Long (vùng lương thực, thủy sản lớn), có mạng lưới giao thông đường bộ, cảng biển và sân bay quốc tế thuận tiện cho tiêu thụ và xuất khẩu nông sản.
    • Địa hình và đất đai: Địa hình lượn sóng bán bình nguyên thuận lợi cho hình thành các vùng chuyên canh tập trung quy mô lớn. Hai nhóm đất chủ đạo gồm đất đỏ bazan màu mỡ (tập trung ở Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu) thích hợp phát triển cây công nghiệp dài ngày (cao su, tiêu, điều, cà phê) và cây ăn quả; đất xám trên phù sa cổ (Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước) thích hợp cho cây công nghiệp hàng năm, cây ăn quả và phát triển các trang trại chăn nuôi tập trung xa khu dân cư.
    • Khí hậu và nguồn nước: Khí hậu cận xích đạo gió mùa, nền nhiệt cao và ổn định, ít chịu ảnh hưởng của bão lũ, tạo điều kiện canh tác quanh năm. Nguồn nước mặt dồi dào từ hệ thống sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Bé cùng các hồ thủy lợi lớn (hồ Dầu Tiếng, hồ Trị An) cung cấp nước tưới và phát triển nuôi trồng thủy sản.
  • Các nhân tố kinh tế - xã hội:
    • Chính sách và vốn: Chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại của Chính phủ và địa phương; sự tập trung của hệ thống ngân hàng thương mại tạo nguồn vốn đầu tư lớn, dù thủ tục thế chấp tài sản trên đất trang trại vẫn gặp rào cản pháp lý.
    • Dân số và thị trường tiêu thụ: Quy mô dân số đông, tỷ lệ đô thị hóa cao, mức sống cao tại TP. Hồ Chí Minh và các đô thị công nghiệp hình thành thị trường tiêu thụ nông sản thực phẩm tươi sống (rau, hoa quả, thịt gia súc, gia cầm, trứng, sữa) lớn nhất cả nước.
    • Khoa học - công nghệ và hạ tầng: Mức độ cơ giới hóa, điện khí hóa cao; mạng lưới giao thông nông thôn được nhựa hóa đạt tỷ lệ cao; hệ thống nhà máy chế biến nông sản, cơ sở sản xuất giống và thức ăn gia súc phát triển đồng bộ. Trình độ tổ chức quản lý của các chủ trang trại Đông Nam Bộ năng động, nhạy bén với cơ chế thị trường. Tuy nhiên, khả năng liên kết theo chuỗi giá trị nông sản còn lỏng lẻo, chủ trang trại thường chịu thiệt thòi trước sự ép giá của thương lái.

Chương 3: Thực trạng phát triển trang trại ở vùng Đông Nam Bộ

Chương 3 là phần thực nghiệm trọng tâm của luận án, kết hợp xử lý dữ liệu thống kê liên ngành và cơ sở dữ liệu sơ cấp từ 300 trang trại khảo sát:

  • Quy mô và cơ cấu loại hình: Giai đoạn 2006 - 2014, cơ cấu loại hình trang trại của vùng có sự biến dịch mạnh mẽ. Trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển nhanh nhất cả về số lượng và tỷ trọng, tập trung nhiều ở Đồng Nai, Bình Dương và TP. Hồ Chí Minh. Trang trại trồng cây lâu năm giữ vai trò chủ đạo về diện tích đất canh tác, chiếm ưu thế tuyệt đối ở Bình Phước, Tây Ninh và Bà Rịa - Vũng Tàu. Trang trại nuôi trồng thủy sản phân bố cục bộ ở khu vực ven biển Cần Giờ và Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • Huy động và sử dụng các nguồn lực đầu vào:
    • Đất đai: Quy mô diện tích đất bình quân trên một trang trại của vùng Đông Nam Bộ cao hơn mức trung bình của cả nước nhưng có xu hướng giảm nhẹ do giá đất tăng cao và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa.
    • Vốn đầu tư: Suất đầu tư vốn trên một trang trại và vốn đầu tư trên một hecta đất tại Đông Nam Bộ cao vượt trội so với các vùng khác. Khảo sát 300 trang trại cho thấy trang trại chăn nuôi có vốn đầu tư lưu động và chi phí cơ sở vật chất kỹ thuật cao hơn nhiều so với trang trại trồng trọt.
    • Lao động và trang thiết bị: Tỷ lệ sử dụng lao động làm thuê thường xuyên tại các trang trại Đông Nam Bộ cao; mức độ áp dụng máy móc, thiết bị tự động hóa (hệ thống làm mát chuồng trại chăn nuôi, hệ thống tưới phun tự động, phần mềm máy tính quản lý) đạt tỷ lệ cao.
  • Hiệu quả kinh tế và tiêu thụ sản phẩm:
    • Tỷ suất hàng hóa của trang trại Đông Nam Bộ đạt mức rất cao (hầu hết trên 90%). Doanh thu và lợi nhuận bình quân trên một trang trại cao nhất toàn quốc. Trang trại chăn nuôi đạt doanh thu và vòng quay vốn nhanh, trong khi trang trại cây lâu năm có mức sinh lợi ổn định trên đơn vị diện tích.
    • Về tiêu thụ: Sản phẩm phần lớn tiêu thụ qua thương lái và các cơ sở chế biến tư nhân; tỷ lệ bán trực tiếp vào hệ thống siêu thị, chuỗi cửa hàng thực phẩm tiện lợi (như Co.op Food) hoặc xuất khẩu trực tiếp theo hợp đồng liên kết chuỗi giá trị còn hạn chế.
  • Hạn chế và lực cản: Tình trạng ô nhiễm môi trường chất thải trong chăn nuôi; rủi ro dịch bệnh gia súc gia cầm; thiếu quy hoạch vùng trang trại an toàn sinh học; khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi dài hạn do vướng mắc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển trang trại ở vùng Đông Nam Bộ

Chương 4 xác lập các định hướng phát triển trang trại đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 dựa trên các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng:

  • Định hướng chiến lược: Phát triển trang trại bền vững gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp; đẩy mạnh ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC), nông nghiệp đô thị sinh thái; sản xuất hàng hóa lớn đạt các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm (VietGAP, GlobalGAP); phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ trang trại và mở rộng thị trường nội địa gắn với xuất khẩu.
  • Hệ thống các nhóm giải pháp thực thi:
    1. Quy hoạch không gian: Rà soát, xây dựng quy hoạch các vùng sản xuất trang trại tập trung gắn với bảo vệ môi trường, ưu tiên bố trí các trang trại chăn nuôi công nghiệp xa khu dân cư và các nguồn nước mặt.
    2. Giải pháp đất đai: Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung đất đai hợp pháp; đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trang trại; tạo điều kiện pháp lý cho việc chuyển đổi một phần diện tích đất nông nghiệp sang xây dựng công trình hạ tầng phục vụ trực tiếp sản xuất (nhà kho, chuồng trại, hệ thống xử lý chất thải biogas).
    3. Giải pháp vốn và tín dụng: Đơn giản hóa thủ tục vay vốn ngân hàng, cho phép thế chấp tài sản hình thành trên đất trang trại (vườn cây lâu năm, hệ thống chuồng trại hiện đại); đa dạng hóa các gói tín dụng ưu đãi phát triển nông nghiệp công nghệ cao.
    4. Giải pháp khoa học - công nghệ và dịch vụ nông nghiệp: Hỗ trợ chuyển giao các giống cây trồng, vật nuôi kháng bệnh và có năng suất cao; khuyến khích áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm, tự động hóa chuồng trại, xử lý chất thải bảo vệ môi trường; mở rộng mạng lưới dịch vụ thú y, bảo vệ thực vật và khuyến nông.
    5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Mở các lớp đào tạo, tập huấn kỹ thuật và bồi dưỡng kỹ năng quản trị kinh doanh nông nghiệp cho chủ trang trại và lao động kỹ thuật.
    6. Thị trường và liên kết chuỗi giá trị: Xây dựng thương hiệu và đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cho nông sản trang trại; hoàn thiện mô hình liên kết bốn nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Chủ trang trại); mở rộng mạng lưới tiêu thụ qua hợp đồng bao tiêu sản phẩm với các siêu thị và nhà máy chế biến.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án góp phần làm rõ và hoàn thiện cơ sở lý luận về tổ chức sản xuất kinh tế trang trại dưới lăng kính địa lí kinh tế - xã hội, cụ thể hóa cho một vùng kinh tế trọng điểm đang trong tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh.
  • Hệ thống hóa và phân tích sâu sắc các tiêu chí phân loại trang trại ở Việt Nam trong tương quan với thế giới, đồng thời xây dựng một khung hệ thống chỉ tiêu định lượng toàn diện (14 chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật) phục vụ việc điều tra, đo lường và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh trang trại.
  • Làm sáng tỏ sự chuyển hóa quy luật quy mô diện tích và năng suất (bác bỏ tính phổ quát của quan hệ nghịch đảo IR trong điều kiện thâm canh vốn và công nghệ cao tại Đông Nam Bộ).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh, chân thực và cập nhật về hiện trạng phân bố không gian và cơ cấu các loại hình trang trại tại vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2006 - 2014 thông qua hệ thống bản đồ chuyên đề tỷ lệ 1:1.000.000 và 1:400.000.
  • Xử lý và công bố bộ dữ liệu sơ cấp thực địa từ 300 trang trại tại 9 huyện trọng điểm, chỉ rõ các đặc trưng về suất đầu tư vốn trên diện tích, tỷ số lợi nhuận trên vốn ($P/V$), tỷ số lợi nhuận trên doanh thu, và cấu trúc kênh tiêu thụ sản phẩm nông sản trang trại.
  • Luận giải khách quan những vướng mắc thực tế của người nông dân sản xuất quy mô lớn tại Đông Nam Bộ liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tiếp cận tín dụng thương mại và kiểm soát dịch bệnh.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ có tính khả thi, làm luận cứ khoa học trực tiếp cho các cơ quan hoạch định chính sách cấp vùng và cấp tỉnh tại Đông Nam Bộ trong việc xây dựng quy hoạch nông thôn và ban hành cơ chế phát triển kinh tế trang trại bền vững đến năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của công trình

  • Do sự thay đổi tiêu chuẩn định lượng trang trại của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giữa Thông tư liên tịch 69/2000 và Thông tư 27/2011, chuỗi số liệu thống kê trang trại cấp tỉnh trong giai đoạn 2006 - 2014 có sự đứt gãy nhất định, gây khó khăn cho việc phân tích chuỗi thời gian liên tục.
  • Mẫu khảo sát thực địa sơ cấp (300 trang trại) dù đại diện cho các ngành sản xuất và các tiểu vùng sinh thái chính nhưng phạm vi mới chỉ bao quát 9 huyện, chưa thể phản ánh toàn bộ các biến động vi mô tại tất cả các huyện nông nghiệp của vùng Đông Nam Bộ.
  • Dữ liệu thực nghiệm của luận án kết thúc ở mốc năm 2014, chưa bao hàm các chính sách mới về nông nghiệp công nghệ cao và biến động thị trường nông sản trong những năm gần đây.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Cập nhật số liệu thứ cấp từ các cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp tiếp theo để phân tích chuỗi biến động dài hạn của kinh tế trang trại Đông Nam Bộ sau năm 2014.
  • Đi sâu nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và hiện tượng xâm nhập mặn đối với các trang trại nuôi trồng thủy sản và trồng trọt tại các huyện ven biển (Cần Giờ, Bà Rịa - Vũng Tàu).
  • Nghiên cứu mô hình chuyển đổi số và phát triển nông nghiệp tuần hoàn trong các trang trại quy mô lớn ở Đông Nam Bộ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Phát triển nông thôn các tỉnh Đông Nam Bộ trong việc lập quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, quy hoạch vùng chăn nuôi an toàn sinh học và xây dựng cơ chế tín dụng hỗ trợ kinh tế trang trại.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích trong lĩnh vực Địa lí Kinh tế - Xã hội, Địa lý Nông nghiệp, Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; cung cấp phương pháp luận kết hợp giữa nghiên cứu không gian địa lý, GIS và điều tra xã hội học định lượng.
  • Chủ trang trại và hiệp hội ngành hàng: Giúp nắm bắt các phân tích về kênh phân phối, quản trị chi phí đầu tư và xu hướng thị trường để chủ động điều chỉnh chiến lược kinh doanh và liên kết chuỗi giá trị.

Câu hỏi thường gặp

1. Vị trí đóng góp của trang trại Đông Nam Bộ trong nền nông nghiệp cả nước và của vùng năm 2014 được thể hiện qua các số liệu nào?
Năm 2014, trang trại vùng Đông Nam Bộ chiếm 20,7% về số lượng, 38,6% về diện tích và chiếm tới 44,5% về doanh thu trang trại toàn quốc. Trong nội bộ ngành nông nghiệp vùng Đông Nam Bộ, trang trại chỉ sử dụng 2,72% diện tích đất nông nghiệp, 2,62% lao động và 0,39% số hộ nông thôn, nhưng đóng góp đến 14% tổng giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp vùng.

2. Khảo sát thực địa của luận án được tiến hành với quy mô mẫu và địa bàn cụ thể như thế nào?
Tác giả tiến hành phỏng vấn trực tiếp 300 chủ trang trại tại 9 huyện thuộc 6 tỉnh, thành phố Đông Nam Bộ: Bến Cầu, Tân Biên (Tây Ninh), Hớn Quản (Bình Phước), Phú Giáo (Bình Dương), Thống Nhất (Đồng Nai), Châu Đức (Bà Rịa - Vũng Tàu), Bình Chánh, Cần Giờ, Củ Chi (TP. Hồ Chí Minh). Cơ cấu mẫu gồm 133 trang trại trồng trọt, 150 trang trại chăn nuôi và 17 trang trại nuôi trồng thủy sản.

3. Vì sao phân tích hiện trạng trang trại trong luận án phải chia thành hai giai đoạn 2006 - 2011 và 2011 - 2014?
Nguyên nhân là do có sự thay đổi văn bản pháp quy về tiêu chí nhận diện trang trại của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Giai đoạn 2006 - 2011 áp dụng tiêu chí theo Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNNPTNT-TCTK, còn giai đoạn 2011 - 2014 áp dụng tiêu chí mới theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT (nâng ngưỡng giá trị sản lượng hàng hóa và diện tích tối thiểu), dẫn đến số lượng thống kê trang trại có sự biến động cơ học.

4. Kết quả nghiên cứu của luận án có ủng hộ giả thuyết về "Mối quan hệ nghịch đảo" (IR) giữa quy mô diện tích và năng suất không?
Không. Dữ liệu khảo sát và phân tích thực nghiệm của luận án tại Đông Nam Bộ chỉ ra rằng quan hệ nghịch đảo (IR - cho rằng trang trại quy mô nhỏ đạt năng suất cao hơn trang trại lớn) không còn đúng. Ở Đông Nam Bộ, việc gia tăng quy mô đi kèm với trình độ thâm canh vốn cao, cơ giới hóa và ứng dụng công nghệ hiện đại đã giúp các trang trại quy mô lớn đạt năng suất tổng thể và hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích cao hơn.

5. Các rào cản, khó khăn lớn nhất mà các chủ trang trại ở Đông Nam Bộ kiến nghị giải quyết là gì?
Qua điều tra xã hội học, các vướng mắc lớn nhất tập trung vào: khó tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi dài hạn do khó khăn trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trang trại và công nhận tài sản trên đất; quy hoạch vùng sản xuất chưa ổn định; nguy cơ dịch bệnh và ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi; giá cả vật tư đầu vào biến động và tình trạng bị thương lái ép giá tiêu thụ đầu ra do thiếu liên kết chuỗi giá trị.


Kết luận

Luận án Phát triển trang trại ở vùng Đông Nam Bộ của tác giả Lã Thúy Hường là công trình nghiên cứu khoa học địa lý kinh tế - xã hội có cấu trúc hoàn chỉnh và dữ liệu thực nghiệm phong phú. Bằng việc kết hợp các quan điểm địa lý tổng hợp, lãnh thổ và bền vững với kỹ thuật phân tích thống kê SPSS và hệ thống GIS, tác giả đã làm sáng tỏ hiện trạng phát triển, cấu trúc không gian và hiệu quả kinh tế của các loại hình trang trại trên địa bàn vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2006 - 2014. Các giải pháp quy hoạch, đất đai, tín dụng và liên kết chuỗi giá trị được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn thiết thực, đóng góp tích cực vào tiến trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp vùng Đông Nam Bộ theo hướng hàng hóa lớn, công nghệ cao và bền vững.