CHƯƠNG I: Một số lý luận cơ bản về phát triển thương mại sản phẩm thuốc 1. Khái niệm về thương mại và phát triển thương mại: 1. Khái niệm, đặc điểm của thương mại: 1. Khái niệm thương mại: Để hiểu rõ về thương mại chúng ta cần tiếp cận thương mại dưới 3 góc độ: Tiếp cận thương mại với tư cách là một hoạt động kinh tế: Nếu xem xét dưới góc độ một trong những hoạt động kinh tế cơ bản và phổ biến trong nền kinh tế thị trường.
Mọi hoạt động thương mại đều bắt đầu bằng hành vi mua và kết thúc bằng hành vi bán. Mục đích của hoạt động thương mại là nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Hoạt động thương mại xảy ra trong khâu lưu thông, trên thị trường với những điều kiện kinh tế, xã hội, luật pháp, chính trị và môi trường vật chất cụ thể. Tiếp cận thương mại với tư cách là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội: quá trình tái sản xuất xã hội gồm bốn khâu cơ bản, đó là: Sản xuất- Phân phối- Trao đổi và Tiêu dùng.
Là hình thái phát triển của trao đổi và lưu thông hàng hóa, thương mại được coi là một khâu cơ bản và quan trọng của quá trình tái sản xuất, đó là khâu trao đổi- khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng. Thương mại là phương tiện mở rộng giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, khu vực. Đối với mỗi nền kinh tế, thương mại phát triển, lưu thông hàng hóa thông suốt là biểu hiện của sự phát triển kinh tế lành mạnh, thịnh vượng. Tiếp cận thương mại với tư cách là một ngành kinh tế: Nếu xem xét dưới góc độ phân công lao động xã hội thì Thương mại được coi là một ngành kinh tế quốc dân độc lập trong nền kinh tế.
Đó là ngành đảm nhận chức năng tổ chức lưu thông hàng hóa và cung ứng các dịch vụ cho xã hội thông qua việc thực hiện mua bán nhằm sinh lời. Chúng ta có rút ra khái niệm: Thương mại là tổng thể các hiện tượng, các hoạt động và các quan hệ kinh tế gắn liền và phát sinh cùng với trao đổi hàng hóa và cung ứng dịch vụ nhằm mục đích lợi nhuận. Hoạt động thương mại được diễn ra nhằm những vai trò chủ yếu như: • Hoạt động thương mại giúp điều kiện quá trình sản xuất vì mọi sản phẩm được tạo ra từ hoạt động sản xuất đều sẽ được trao đổi, buôn bán trên thị trường. • Thương mại phát triển đã tạo điều kiện cho quá trình trao đổi ngày càng được mở rộng, từ đó thúc đẩy sự phát triển của quá trình sản xuất hàng hóa.
• Ngoài ra hoạt động thương mại còn có một vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn tiêu dùng vì qua đây nó có thể tạo dựng ra được các tập quán tiêu dùng mới trên thị trường. Vai trò của thương mại: Một là, trong các chủ thể tham gia trong hoạt động thương mại thì có ít nhất một trong các bên được xác định là thương nhân. Thương nhân, là khái niệm dùng để chỉ những chủ thể thực hiện hoạt động thương mại gồm tổ chức kinh tế được thành lập một cách hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có thực hiện việc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trong đó, tổ chức kinh tế được hiểu là những tổ chức mà được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật, thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh thu lợi nhuận, thường được thể hiện thông các hình thái như doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã… Việc khẳng định một trong các bên thực hiện hoạt động thương mại là thương nhân là bởi, thương nhân là chủ thể được quyền hoạt động thương mại dưới tất cả những hình thức, phương thức mà pháp luật không cấm, trên các lĩnh vực, ngành nghề theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, trong quy định tại Điều 1, và Điều 2 Luật thương mại năm 2005 có quy định cụ thể về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng thì có xác định là áp dụng đối với thương nhân hoạt động thương mại trên lãnh thổ Việt Nam và ngoài lãnh thổ Việt Nam cũng như các tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại khác mà không được xác định là thương nhân. Ngoài ra, trong quy định của Luật thương mại năm 2005 quy định về một trong các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại cũng xác định về nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại. Do vậy, có thể khẳng định một bên trong hoạt động thương mại được xác định là thương nhân. Bên còn lại trong hoạt động thương mại có thể được xác định là thương nhân, nhưng cũng có thể được xác định không phải là thương nhân như cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh được điều chỉnh bởi Nghị định 39/2007/NĐ-CP, ví dụ như người buôn bán vặt, buôn bán quà vặt, buôn chuyến… Hai là, mục đích của các bên khi thực hiện hoạt động thương mại đều là nhằm mục đích lợi nhuận.
Cũng giống như các hoạt động kinh doanh khác, các chủ thể thực hiện hoạt động thương mại dù dưới hình thức nào, là mua bán hàng hoá hay cung cấp dịch vụ, thậm chí thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại như tổ chức hoạt động khuyến mại, quảng cáo thì đều nhằm mục đích tạo ra điều kiện cũng như khả năng trao đổi hàng hoá, giao lưu thương mại, đảm bảo việc tạo ra một nguồn thu nhập, một khoản tiền lợi nhuận từ những hoạt động này. Ba là, hoạt động thương mại được thể hiện dưới nhiều hình thức hoạt động khác nhau, nhưng được xác định chủ yếu thông qua hai nhóm hoạt động: Mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ. 7 Bốn là, Chủ thể thực hiện hoạt động thương mại được phép thực hiện kinh doanh tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ được phép kinh doanh theo quy định của pháp luật, trên tất cả các lĩnh vực, ngành nghề theo quy định của pháp luật. Năm là, phạm vi thực hiện hoạt động thương mại không chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam mà còn được thực hiện ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam, trong phạm vi khu vực và thế giới, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và phù hợp với xu thế toàn cầu hoá, mở cửa nền kinh tế.
Thông qua đó khẳng định vị thế của quốc gia trên trường quốc tế. Khái niệm, vai trò phát triển thương mại: 1. Khái niệm phát triển thương mại: Phát triển thương mại là sự nỗ lực, cải thiện về quy mô, chất lượng, các hoạt động thương mại sản phẩm trên thị trường nhằm tối đa hóa tiêu thụ sản phẩm và hiệu quả của các hoạt động thương mại cũng như tối đa hóa lợi ích mà khách hàng mong đợi trên thị trường mục tiêu. Phát triển thương mại bao gồm: • Mở rộng quy mô, mở rộng thị trường, tăng sản lượng, thay đổi cơ cấu sản phẩm.
• Nâng cao chất lượng, đảm bảo các dịch vụ hỗ trợ trước, trong và sau khi bán. • Phát triển thương mại luôn gắn liền với sự ổn định, phát triển hài hòa cùng với các mối quan hệ kinh tế, xã hội khác đảm bảo sự phát triển bền vững. Nội hàm của phát triển thương mại bao gồm: • Sự gia tăng về quy mô: Sự gia tăng quy mô nếu xét theo theo góc độ vi mô được hiểu là sự gia tăng về doanh thu, sản lượng tiêu thụ, số lượng nhà cung ứng. Nếu xét theo góc độ vĩ mô thì nó lại được hiểu là gia tăng về giá trị thương mại, gia tăng tổng mức lưu chuyển hàng hóa trên thị trường.Qua đố để biết được với những lợi thế sẵn có của doanh nghiệp thì sự gia tăng như vậy thì đã hợp lý chưa và có những điều chỉnh thích hợp.
Tuỳ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế xã hội của ngành mà quy mô thương mại cũng có thể tăng hay giảm. • Sự gia tăng về tốc độ: Thể hiện thông qua việc sản lượng,doanh thu của năm sau so với năm trước như thế nào. Nếu tốc độ tăng trưởng dương tức là doanh thu năm sau cao hơn năm trước và ngược lại, tốc độ tăng trưởng âm nghĩa là doanh thu đang giảm đi. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng chỉ là một trong số nhiều chỉ tiêu dùng để đánh giá tình hình hoạt động của một công ty.
Để đánh giá chính xác tình hình của công ty thì nên dùng thêm nhiều chỉ tiêu khác như tình hình hoạt động chung của ngành, biến đổi của nền kinh tế, chính sách vĩ mô… • Phát triển thương mại về mặt chất lượng: Thể hiện thông qua cơ cấu mặt hàng, cơ cấu thị trường tiêu thụ của sản phẩm… Phải đánh giá được chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng gì tới số lượng tiêu thụ sản phẩm cũng như doanh thu của 8 công ty như thế nào, xác định vị trí của sản phẩm của công ty trong lòng khách hàng và so với đối thủ cạnh tranh. Phát triển thương mại về mặt chất lượng còn được thể hiện thông qua cách thức sử dụng các nguồn lực thương mại để phát triển thương mại sản phẩm. Số lượng và chất lượng nguồn lực được sử dụng trong thương mại có ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm, của ngành, của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế. • Sự phát triển đạt được tính tối ưu và hiệu quả: Hiệu quả phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Một phương án kinh doanh sẽ được coi là tối ưu khi nó đạt được hiệu quả cao nhất, tức là chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó là nhỏ nhất. Suy cho cùng, phát triển được coi là tối ưu và hiệu quả khi nó kết hợp hài hoà giữa các mục tiêu phát triển kinh tế - công bằng xã hội - bảo vệ môi trường và hướng tới phát triển bền vững, nghĩa là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không gây trở ngại cho việc đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai.