CHƯƠNG 1. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THONG TIN TÀI CHÍNH, GIA CO PHIẾU VA TÁC ĐỘNG CUA THONG TIN TAI CHINH TOI GIA CO PHIEU 1. Tổng quan nghiên cứu về thông tin tài chính, giá cỗ phiếu va tác động của thông tin tài chính tới giá cỗ phiếu 1.1, Các nghién cứu nước ngoài Đến nay, trên thế giới đã có nhiều bài nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và các thông tin công bố trên báo cáo tài chính. Nhiều thực nghiệm cũng đã được thực hiện để kiểm chứng mối quan hệ này trên các thị trường khác nhau.
Nghiên cứu đầu tiên về vấn dé này là thực nghiệm của Ball (1968) đã khang định có mối liên hệ giữa giá cô phiếu và thu nhập của doanh nghiệp. Tuy nhiên, phải đến năm 1995, nghiên cứu của Ohlson mới đặt nên móng lý thuyết dé giải thích được mối quan hệ này. Dựa trên cơ sở mô hình lợi nhuận thặng dư và chuỗi thông tin, Ohlson đã tìm ra mô hình chứng minh mối quan hệ của giá cô phiếu và hai thông tin tài chính là lợi nhuận trên cổ phiếu va giá trị số sách trên cô phiếu trên thị trường hiệu quả. Giá cổ phiếu còn bị ảnh hưởng bởi các thông tin khác chưa hoặc không thể hiện trong báo cáo tài chính.
Kết quả mô hình Ohlson cũng đã chứng minh các kiểm nghiệm trước đó về mối quan hệ này là phù hợp. Sau khi mô hình Ohlson được công bó, các bài nghiên cứu về dé tài này đã có cơ sở dé tiếp tục kiểm chứng tác động của các loại thông tin báo cáo tài chính khác lên giá cô phiêu. Trong bài nghiên cứu về sự thay đổi của khả năng giải thích giá trị cỗ phiếu bởi thu nhập và giá trị số sách trong vòng 40 năm trên thị trường chứng khoán Mỹ, Collins và cộng sự (1997) đã chỉ ra khả năng giải thích kết hợp của thu nhập và giá trị số sách cho giá cổ phiếu không giảm di trong vòng 40 năm, thậm chí là có tăng nhẹ. Tuy nhiên, trong khi khả năng giải thích của giá trị số sách có xu hướng tăng lên thì thu nhập có xu hướng giảm khả năng tác động lên giá cổ phiếu, điều này được giải thích bởi sự tăng tần suất thu nhập âm và sự thay đổi quy mô doanh nghiệp.
Tương tự, nghiên cứu tại thị trường mới nổi như Trung Quốc, Chen và cộng sự (1999) cũng chứng minh được mối quan hệ giữa giá và thông tin tài chính là thu nhập, quy mô doanh nghiệp, sự bền vững của lợi nhuận và ty trọng cổ phan nắm giữ của nhà nước mặc dù thị trường chứng khoán còn non trẻ và nhận thức về các báo cáo tai chính thời diém nay con hạn chê. Các nghiên cứu trên nhiều thị trường chứng khoán với mức độ phát triển khác nhau đều chỉ ra có sự liên hệ giữa giá cổ phiếu và các thông tin kế toán trên báo cáo tài chính, tuy nhiên, lại đều dựa trên mô hình Ohlson với giả thiết về thị trường hiệu quả, tức giá tại thời điểm hiện tại đã phản ánh đầy đủ thông tin thị trường. Trên thực tế, điều này là bất hợp lý bởi với mức độ phát triển khác nhau của từng thị trường thì mức độ hiệu quả, tức khả năng giá phản ánh được day đủ các thông tin thị trường cũng khác nhau. Ngoài ra, những dị thường trong đặc điểm giá cổ phiếu mà giả thuyết thị trường hiệu quả không thé giải thích như: phản ứng dưới mức, phản ứng quá mức, biến động quá mức, hiệu ứng thời vụ,.
xuất phát từ những van dé thực tế như: chi phí thông tin và giao dich, sự khác biệt kỳ vọng của nhà đầu tư, và các vấn đề của hạ tầng cấu trúc thị trường tài chính. Vì vậy, có thé nói, trên thực tế, giá ngay tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán, khi có các thông tin trên báo cáo tài chính, giá có thể chưa kịp phản ánh đầy đủ các thông tin này. Trong nghiên cứu về đo lường các liên hệ đến giá trị cổ phiếu trong thị trường không hiệu quả, Aboody (2002) đã chỉ ra giá tại thời điểm hiện tại được phản ánh bởi các thông tin trên thị trường bao gồm thông tin trên báo cáo tài chính với sai số, sau một thời gian, thị trường sẽ tự động điều chỉnh về trạng thái hiệu quả, tức phản ánh được giá tri nội tại của chính nó tại thời điểm kết thúc niên độ. Hay có thé nói, sau một thời gian t+n, giá cô phiếu sẽ được điều chỉnh dé phản ánh giá trị của nó tại thời điểm t.
Độ trễ về thời gian điều chỉnh sẽ phụ thuộc vào mức độ hoạt động hiệu quả của từng thị trường chứng khoán. Theo Perera và cộng sự (2010) nhận thấy, các nghiên cứu thực nghiệm trong thời gian đó đã cho thấy các thông tin kế toán đã dần mất đi mối liên hệ với giá cổ phiếu. Theo những nghiên cứu này, nha đầu tư có xu hướng dan tập trung hơn vào các thông tin khác như thông tin phi tài chính, vốn ngắn hạn được cấp thêm hay những sự kiện không thường xuyên. Vì vậy, Perera và cộng sự muốn kiểm chứng về mối quan hệ này trong trường hop cụ thê đối với các cô phiếu của các Ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán Colombo của Sri Lanka.
Bằng mô hình hồi quy tuyến tính và hồi quy bội, nghiên cứu thực nghiệm với dữ liệu được lay trong 5 năm từ 2006 dén 2009 cho thay su chat ché của mối liên hệ giữa giá cô phiếu và các thông tin tài chính là Thu nhập trên 1 cỗ phiếu (EPS), Suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) và Tỷ suất sinh lời (EY), không giảm đi. Từ đó đưa ra kết luận rằng các nhà đầu tư vẫn cần cân nhắc các yếu tố trên báo cáo tài chính khi đưa ra quyết định đầu tư đối với các cô phiếu của các Ngân hàng thương mại tại Sri Lanka. Đây cũng là một trong số ít các bài nghiên cứu riêng về 1 ngành trong khi các nghiên cứu khác cùng dé tài trên thế giới sẽ kiểm nghiệm với mẫu là các công ty thuộc nhiều ngành nghề khác nhau. Ngoài ra, bài nghiên cứu chọn mẫu là các Ngân hàng thương mại, thuộc ngành tài chính, vốn là những công ty bị loại khỏi mẫu quan sát của các bài nghiên cứu như của Manisha (2014), Omokhudu (2015) vì đặc thù ngành.
Vì vậy, có thé thấy, mặc dù tính chất ngành nghề có sự khác biệt, các thông tin kế toán vẫn có khả năng giải thích cho giá cổ phiếu của các công ty thuộc lĩnh vực tài chính. Trong những năm đầu của thế kỷ 21, đề tài về ý nghĩa của các thông tin tài chính đối với định giá cô phiếu tại các thị trường mới nổi chưa được khai thác và tìm hiểu nhiều. Điều này đã tạo động lực để Alfaraih và cộng sự (2011) thực hiện nghiên cứu trường hợp tại thị trường Kuwait để xem xét tác động của thu nhập và giá trị số sách đến giá cổ phiếu trên sàn KSE từ năm 1995 đến năm 2006. Sử dụng cùng mô hình được sử dụng cho các thực nghiệm tại thị trường phát triển là mô hình thu nhập của Easton và Harris (1991) và mô hình giá của Ohlson (1995), với giá được lay tại thời điểm 3 tháng sau khi kết thúc năm tài chính, kết quả cả hai mô hình đều chi ra thu nhập và giá trị số sách đều có anh hưởng thuận chiều và đáng ké đến giá cô phiếu.
Điều này cũng có nghĩa, trên thị trường chứng khoán Kuwait, các quyết định đầu tư bị ảnh hưởng rất nhiều bởi ác yếu tô này. Đặc biệt, kết quả mô hình cho thấy, mối liên hệ giữa giá cô phiếu va các thông tin báo cáo tài chính, xét với R7 điều chỉnh và hệ số thu nhập, tại một thị trường mới nôi như Kuwait còn chặt chẽ hơn các thị trường phát triển và thị trường mới nổi khác. Giải thích cho phát hiện này, các tác giả cho răng, các thông tin báo cáo tài chính trên thị trường Kuwait được cung cấp đầy đủ và công băng cho tat cả thành phần tham gia thị trường. Có thé thấy, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình Ohlson với sự điều chỉnh giá do sự không hiệu quả của thị trường mặc dù không đề cập đến đề xuất của Aboody.
Vì vậy, có thêm 1 nghiên cứu ở thị trường không hiệu quả cho thấy sự phù hợp trong việc sử dụng mô hình Ohlson (1995) và điều chỉnh giá của Aboody (2002). Nghiên cứu về các yếu tố cơ bản quyết định giá cô phiếu trên thị trường chứng khoán Ấn Độ, Srinivasan (2012) đã sử dụng dữ liệu của 6 ngành nghề chính của kinh tế Ấn Độ từ năm 2006 đến 2011, bao gồm các ngành Sản xuất và công nghiệp nặng, Dược phẩm, Năng lượng, Công nghệ thông tin, Cơ sở hạ tầng, Ngân hàng. Theo đó, nhóm tác giả đã tìm được những điểm chung giữa các ngành trong mối liên hệ giữa thông tin báo cáo tài chính và giá của cô phiếu. Nghiên cứu chi ra, cổ tức trên một cô phiếu (DPS) có ảnh hưởng ngược chiều đến giá cô phiếu của ngành Sản xuất, Dược phẩm, Năng lượng và Cơ sở hạ tang.
Đồng thời, ảnh hưởng của Thu nhập trên cổ phiếu (EPS) va tỷ số giá trên thu nhập (P/E) cũng là những yếu tố quan trọng quyết định đến giá của ngành Sản xuất, Dược phẩm, Năng lượng, Cơ sở hạ tầng và Ngân hàng (quan hệ thuận chiều). Ngoài ra, giá trị số sách trên cổ phiếu cũng có tác động thuận chiều đến giá của các công ty Dược phâm, Năng lượng, Công nghệ thông tin và Cơ sở hạ tầng. Cuối cùng, yếu tố quy mô công ty, được tính bằng doanh thu ròng, có tác động thuận chiều đến giá của cô phiếu của tat cả các ngành trừ ngành Sản xuất. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả chỉ ra rang các yếu tố tài chính cơ bản là cần thiết và quan trọng dé các nhà dau tư và phân tích đánh giá khi lựa chọn cỗ phiếu.
Có thê thấy răng, đối với mỗi ngành, ý nghĩa của các thông số trên báo cáo tài chính lại có ý nghĩa khác nhau đối với giá của các công ty thuộc ngành đó. Điều này xuất phát từ sự khác nhau trong đặc thù kinh doanh của từng ngành. Đây cũng là một trong số ít các nghiên cứu phân tách rõ ràng sự ảnh hưởng của các chỉ số tài chính lên giá cô phiếu theo các ngành riêng biệt và kết quả đã chứng minh việc phân tách này là phù hợp.