Chương 1:“Cơ sở khoa học về phát triển sản phẩm bảo hiểm nhân thọ”” Chương 2:“Thực trạng phát triển sản phẩm tại công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ VietinBank Aviva.”” Chương 3: Giải pháp phát triển sản phẩm BHNT tại công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ“VietinBank Aviva.”” Kết luận 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1. Khái quát về bảo hiểm nhân thọ 1. Sự ra đời và phát triển (Trong cuộc sống hằng ngày và trong các hoạt động mà con người tham gia luôn tiềm ẩn những rủi ro về tai nạn, thương tật, ốm đau, bệnh tật…Những rủi ro này tác động không nhỏ đến cuộc sống con người. Bởi vậy, nhằm khắc phục những hậu quả của rủi ro, bù đắp những mất mát về tài chính do mất giảm thu nhập và đảm bảo cuộc sống của con người luôn là vấn đề mọi xã hội quan tâm.
Bên cạnh những biện pháp quản trị rủi ro đươc áp dụng như: phòng tránh rủi ro, kiểm soát, chuyển giao rủi ro, chấp nhận rủi ro… thì bảo hiểm là một biện pháp phổ biến nhất và được sử dụng rộng rãi. Các tổ chức và cá nhân có thể mua bảo hiểm để bảo vệ cho những loại rủi ro thuộc nhóm rủi ro“con người, tài sản và trách nhiệm dân sự.”” Từ xưa đến nay tại các quốc gia trên thế giởi có khá nhiều loại hình bảo hiểm liên quan tới con người và được chia thành hai hệ thống bảo hiểm là Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm con người (BHCN) trong bảo hiểm thương mại ( BHTM). BHXH, BHYT là hệ thống bảo hiểm của nhà nước ban hành có đối tượng và phạm vi bảo hiểm còn hạn hẹp đáp ứng quyền lợi cơ bản của người tham gia với mức trợ cấp thấp do đó chưa đáp ứng hết những nhu cầu ngày càng được nâng cao của xã hội. Bảo hiểm con người trong bảo hiểm thương mại bao gồm BHNT và BHCN phi nhân thọ nhằm bù đắp một phần chi phí, thu nhập bị mất giảm do rủi ro bất ngờ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng và đáp ứng những nhu cầu khác của người tham gia, hướng tới mục đích ổn định cuộc sống con người trước biến động cuộc sống.
BHCN là hình thức bổ sung và hết sức cần thiết cho BHXH và BHYT.”” 5 BHNT là một loại hình của BHCN, “là sự cam kết giữa người bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia ( hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một khi có những sự kiện đã định trước xảy ra( người được bảo hiểm chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia bảo hiểm phải nộp phí đầy đủ, đúng hạn. Nói cách khác, bảo hiểm nhân thọ là quá trình bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người”“(Theo Giáo trình bảo hiểm đại học Kinh tế quốc dân, PGS.TS Nguyễn Văn Định chủ biên, năm 2010, trang 432).”” Như vậy, BHNT là loại hình nghiệp vụ cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết. BHNT xuất hiện khá sớm. Hình thức bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1583 ở Luân đôn, người được bảo hiểm là William Gybbon.
Với mức phí là 32 bảng Anh, khi ông chết năm đó người thụ hưởng đã nhận được 400 bảng Anh.(Như vậy, BHNT có từ rất sớm, nhưng không có điều kiện phát triển do thiếu cơ sở kỹ thuật ngẫu nhiên. Thời kỳ đầu, BHNT gặp phải sự phản đối của nhà thờ giáo hội vì cho rằng đã lạm dụng cuộc sống con người. Tuy nhiên sau đó do sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế- xã hội và khoa học kỹ“thuật đã tạo điều kiện cho BHNT phát triển và trở thành tất yếu khách quan.”” Năm 1759, nhà BHNT đầu tiên ra đời ở châu Mỹ nhưng chỉ bán các hợp đồng bảo hiểm cho các con chiên trong nhà thờ của họ. Năm 1762, Công ty BH đầu tiên bán hợp đồng rộng rãi cho nhân dân là Equitable tại Anh.
Năm 1812, một công ty BHNT nữa được thành lập ở Bắc Mỹ. Đến năm 1860, mạng lưới đại lý bán bảo hiểm nhân thọ bắt đầu xuất hiện. Ở Châu Á, năm 1868, công ty BHNT ra đời đầu tiên ở Nhật Bản là Meij. Sau đó vào các năm 1888 và 1889 công ty“Kyoei và Nippon lần lượt ra đời và phát triển cho đến nay.”” Cho đến nay BHNT đã phát triển mạnh mẽ với sản phẩm đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu bảo vệ, tiết kiệm, đầu tư của từng nhóm dân cư và tuân thủ theo hệ thống pháp luật, phù hợp với chính sách kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia.
Năm 1985 doanh thu BHNT mới chỉ đạt 630.5 tỷ đôla, và đến năm 2006 doanh thu phí 6 BHNT toàn thế giới đạt 2014 tỷ đôla. Tại Việt Nam, năm 1996 nhà BHNT đầu tiên tại Việt Nam ra đời trực thuộc Bảo Việt. Bảo Việt đã đưa ra thị trường những sản phẩm BHNT đầu tiên. Trên thực tế loại hình này đã có mặt ở Việt Nam“từ rất sớm dưới nhiều hình thức khác nhau.”” Trước năm 1954, ở miền Bắc, những người đầu tiên được bảo hiểm và hưởng quyền lợi BHNT là những người làm việc cho Pháp do các nhà bảo hiểm của Pháp trực tiếp thực hiện.)Trong những năm 1970 - 1971 ở miền Nam xuất hiện một số sản phẩm được Công ty Hưng Việt triển khai như: “An sinh giáo dục”, “Bảo hiểm trường sinh”, “Bảo hiểm tử kỳ thời hạn 5 - 10 - 20 năm”, tuy nhiên công ty cũng ngừng hoạt động không lâu sau đó.
Năm 1987, Bảo Việt đã có đề án “Bảo hiểm nhân thọ và việc vận dụng vào Việt Nam”, tại thời điểm đó điều kiện kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn như: mức tiết kiệm trong dân còn rất ít; lạm phát cao; chưa có điều kiện để hoạt động kinh doanh và môi trường kinh doanh gặp khó khăn, chưa có văn bản pháp luật quy định về các mối quan hệ giữa người tham gia và nhà bảo hiểm… Năm 1986, đánh dấu công cuộc đổi mới kinh tế nước ta theo hướng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là tiền đề quan trọng cho công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nươc. Về lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm,“ngày 18/12/1993 Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã ban hành nghị định 100/CP đây là văn bản pháp lý chuyên ngành đầu tiên đặt nền móng cho pháp luật về bảo hiểm trong điều kiện kinh tế thị trường,)đánh dấu“chấm dứt sự độc quyền Nhà nước về kinh doanh(bảo hiểm tại Việt)Nam.”” Từ năm 1999, thị trường BH Việt Nam có sự xuất hiện của một số công ty BHNT có vốn nước ngoài đã tạo nên sự sôi động cho thị trường và cung cấp nhiều sản phẩm hơn. Điều này mang lại khách hàng có thêm nhiều lựa chọn về sản phẩm phù hợp nhất với nhu cầu. Thị trường BHNT luôn được đánh giá là thị trường bảo hiểm tiềm năng và thu hút sự chú ý của các DNBH nước ngoài.
Sau hơn 20 năm mở cửa, thị trường BHNT Việt Nam đã chứng kiến sự tăng trưởng ấn tượng, tính đến năm 2016 đã có 18 doanh nghiệp BHNT với DT phí bảo hiểm gốc đạt 49. Tổng hợp số liệu thị trƣờng bảo hiểm nhân thọ ( 1996-2016) STT Chỉ tiêu 1996 2002 2005 2008 2011 2013 2016 1 Số lượng DNBH 1 4 8 11 14 16 18 Nhân thọ 2 Doanh thu phí BH 1 4. Đặc điểm của BHNT 1. Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm dài hạn BHNT là loại hình bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có liên quan đến tuổi thọ của con người nên thời gian bảo hiểm trung và dài hạn, thông thường thời gian BH tối thiểu là 05 năm.
BHNT là loại hình bảo hiểm được quản lý theo kỹ thuật tồn tích, nhằm cân bằng hợp đồng không chỉ trong một năm mà nhiều năm. Kỹ thuật này nói lên tính dài hạn của hợp đồng BHNT và phí bảo hiểm được tồn tích trong nhiều nằm để thực hiện chi trả quyền bảo hiểm vào thời điểm sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực. Bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro. Đây là một đặc điểm riêng có của BHNT.(Khi tham gia BHNT, bên mua bảo hiểm sẽ định kỳ nộp khoản phí bảo hiểm thường là một khoản tiền nhỏ cho nhà bảo hiểm, ngược lại nhà bảo hiểm cam kết trả số tiền bảo hiểm ( thường lớn hơn rất nhiều lần so với khoản phí BH) cho người thụ hưởng như đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi có rủi ro xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm và trong thời gian hiệu lực của hợp đồng.
Như vậy ngay cả khi bên mua bảo hiểm mới đóng được một khoản phí nhỏ thì người thụ hưởng vẫn nhận được khoản tiền chi trả lớn khi có rủi ro xảy ra. Số tiền được chi trả sẽ giúp cho người trong gia đình trang trải những khoản như chi phí điều trị bệnh, mai táng, thực hiện các kế hoạch về giáo dục như kế hoạch đã đưa ra khi bắt đầu tham gia bảo hiểm…Chính vì vậy, BHNT vừa có 8 tính chất tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro. Kế hoạch tiết kiệm được thực hiện theo kỳ đóng phí định kỳ, tuân thủ một cách có kỷ luật theo hợp đồng. Khi tham gia BHNT khác với hình thức tiết kiệm khác ở chỗ, nhà bảo hiểm cam kết trả cho người thụ hưởng của hợp đồng BH một số tiền lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm một khoản tiền nhỏ khi có rủi ro không may gặp phải xảy ra với người được bảo hiểm.
Điều đó thể hiện được“tính chất rủi ro trong BHNT. Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm BHNT đáp ứng được nhiều mục đích,“mỗi một mục đích thể hiện rõ trong từng loại hợp đồng.”” Đối với cá nhân, BHNT đáp ứng nhu cầu về tài chính và nhu cầu khác. Khi tham gia BHNT, người tham gia bảo hiểm muốn có phần chi phí nhằm chi trả những khoản chi tiêu cuối cùng, chi phí mai táng. khi rủi ro không may xảy đến với người được bảo hiểm.
Hỗ trợ một phần vào cuộc sống của những người phụ thuộc như cha mẹ, con cái, vợ ( chồng)…, bù đắp lại một phần thu nhập mất đi do rủi ro xảy đến với gia đình. Khi tham gia BH, các cá nhân sẽ có kế hoạch để tích lũy và có phần thu nhập khi về hưu đặc biệt đối với những người lao động tự do không nhận được chế độ hưu trí của nhà nước do không tham gia đóng BHXH.