Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực Y tế - Chương 2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực Y tế tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam - Chương 3. Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực Y tế tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam 6.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu 6. Công trình nghiên cứu nƣớc ngoài Ở các nước phát triển, cùng với sự ra đời của nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao luôn được đặc biệt chú trọng. Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh tính chiến lược của quản lý nguồn nhân lực, chấp nhận sáng kiến và các mô hình trong quản lý nguồn nhân lực. Khía cạnh quan trọng nhất trong quản lý nguồn nhân lực là sự tích hợp quản lý chiến lược, phát triển tổ chức và môi trường học tập để tạo lập cơ sở cho lợi thế cạnh tranh.
Hai mô hình đặc trưng cho quản lý nguồn nhân lực là mô hình phương Đông - Nhật Bản và phương Tây – Hoa Kỳ. Hiện nay do tác động của khoa học - công nghệ, toàn cầu hoá sự xuất hiện của kinh tế tri thức, các học giả nước ngoài tập trung rất nhiều về vấn đề phát triển nguồn nhân lực. (1) Tác phẩm nổi tiếng “Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysis, with Special Reference to Education” của học giả Gary Becker nhấn mạnh đến hiệu quả của việc đầu tư vào vốn con người. Nghiên cứu này đã được dịch ra tiếng Việt với tên gọi: “Vốn con người: Phân tích lý thuyết và kinh nghiệm, liên quan đặc biệt đến giáo dục” và được xuất bản bởi Nhà xuất bản Khoa học xã hội vào năm 2010.
(2) Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) cũng quan tâm đặc biệt đến vấn đề nguồn nhân lực, thể hiện qua nhiều công trình nghiên cứu.Ấn phẩm “Educational planningand human resource development” (Kế hoạch giáo dục và phát triển nguồn nhân lực) là Luan van 5 một trong những công trình nghiên cứu quan trọng của UNESCO. Công trình nghiên cứu này đã đưa ra những quan điểm hiện đại về giáo dục và nguồn nhân lực qua việc phân tích sâu sắc các yếu tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực ở các nước đang phát triển. (3) Peter Holland, “Attracting and Retaining Talent: Exploring Human Resources Development Trends in Australia” (Thu hút và duy trì tài năng: Tìm hiểu các xu hướng phát triển nguồn nhân lực ở Úc) Các chuyên gia về nguồn nhân lực (HR) trong việc xây dựng các chính sách, tập quán và hệ thống để thu hút, duy trì và phát triển nhân viên như một phần của chiến lược duy trì lợi thế cạnh tranh. Trong bài báo này, trước hết tác giả khảo sát các tài liệu liên quan đến sự hấp dẫn, và phát triển nguồn nhân lực.
Trong phần thứ hai, tác giả khám phá các vấn đề theo ngữ cảnh và các cuộc tranh luận làm cơ sở cho sự thiếu hụt lao động và kỹ năng. Trong thứ ba tác giả khám phá các khu vực nhân sự được xác định bởi một cuộc khảo sát về nhân sự ở Úc các chuyên gia, liên quan đến việc thu hút và duy trì nhân viên. Các phát hiện của tác giả cho thấy các nhà tuyển dụng đang giải quyết các vấn đề liên quan đến tuyển dụng và lựa chọn - thu hút. Tuy nhiên, trong các lĩnh vực phát triển nhân sự quan trọng liên quan đến duy trì như đào tạo và phát triển, thiết kế công việc, phát triển kỹ năng, nghề nghiệp quản lý và xây dựng đội ngũ, kết quả chỉ ra mức độ phân bổ nguồn lực thấp hơn.
Tác giả kết luận rằng đây là mối quan tâm đáng kể trong một kỷ nguyên thiếu hụt kỹ năng, như các tổ chức của Úc sẽ thấy ngày càng khó cạnh tranh 6. Các công trình nghiên cứu trong nƣớc Ở Việt Nam, vai trò quyết định của nguồn nhân lực đã và đang được khẳng định trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (2016) xác định đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là một trong mười ba định hướng Luan van 6 phát triển lớn để hiện thực hoá mục tiêu phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. So với nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, Việt nam chưa có nhiều kinh nghiệm trong quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh, lại càng ít kinh nghiệm trong việc phát triển nguồn nhân lực.
Đối với lĩnh vực y tế, là một lĩnh vực đặc thù, gắn với trách nhiệm cao trước sức khoẻ và tính mạng của người bệnh, vai trò của nguồn nhân lực càng trở nên quan trọng hơn. Việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có tốt hay không thì một trong các yếu tố quan trọng hàng đầu là đội ngũ cán bộ fnhaan viên y tế, là người trực tiếp khám và cung cấp các dịch vụ y tế cho nhân dân. Chất lượng của các dịch vụ y tế phần lớn phụ thuộc vào chính bản thân người thầy thuốc. Một người thầy thuốc giỏi về chuyên môn, tận tụy với nghề nghiệp, có lương tâm đạo đức tốt thì chất lượng phục vụ sẽ tốt, đặc biệt là ở những vùng khó khăn về kinh tế, vùng sâu vùng xa, hải đảo nơi mà cán bộ y tế vừa thiếu, vừa yếu trang bị còn nhiều thiếu thốn thì vai trò của người thầy thuốc còn quan trọng hơn nữa.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, nhu cầu về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày càng cao, đặt ra những áp lực lớn cho ngành y tế là đảm bảo cho tất cả mọi người đều được chăm sóc sức khỏe, góp phần thực hiện công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hóa, trật tự an toàn xã hội, tạo niềm tin của nhân dân đối với nhà nước. Do đó, việc nghiên cứu tìm ra những định hướng, giải pháp để phát triển nguồn nhân lực ngành y tế đáp ứng sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân trong những năm tới là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách. Nội dung về nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực ngành y tế ngày càng được nhiều tác giả, các nhà nghiên cứu khai thác, tìm hiểu ở nhiều góc độ khác nhau.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh “Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực”NXB Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 2009. Tác giả đã đưa ra quan điểm của mình về khái niệm nhân lực, nguồn nhân lực, khái niệm phát triển nguồn nhân lực.Theo đó, tác giả khẳng định phát triển chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong vấn đề phát triển nguồn nhân lực.
Vũ Bá Thể: “Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam”, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nộ ững thực trạng NNL ở nước ta trong những năm qua đã làm rõ thực trạng số lượng và chất lượng NNL nước ta hiện nay, trong đó tập trung phân tích những ưu điểm, hạn chế và xu hướng phát triển của NNL Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của nước ta; đồng thời rút ra những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân của chúng. Từ đó có những định hướng và những giải pháp phát huy nguồn lực con người để phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong thời gian tới. Tuy nhiên đề tài chỉ dừng lại ở việc phân tích nguồn nhân lực con người trong thời kỳ CNH, HĐH, chưa nêu được các tiêu chí phát huy chất lượng nguồn nhân lực. Tác giả Hà Thị Hằng, Luận án tiến sĩ kinh tế (2013), “Nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay” Đưa ra khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực cho CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế xã hội.
Luận án làm rõ các đặc điểm của CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế xã hội. Từ đó luận án khẳng định, ở những trình độ phát triển khác nhau đặt ra những yêu cầu khác nhau đối với nguồn nhân lực. Làm rõ các yếu tố tác động, xu hướng và tính quy luật trong dịch chuyển cơ cấu nguồn nhân lực theo hướng CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế xã hội. Luận án dừng lại ở việc nghiên cứu cơ sở lý luận về nguồn nhân Luan van 8 lực nói chung mà chưa có đề cập cho từng ngành, và chỉ nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
Võ Xuân Tiến Tạp chí Kinh tế và Phát triển; Số: 194;Từ trang: 74- 80;năm 2013 “Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực tại Đà Nẵng” Trên cơ sở mối quan hệ giữa đào tạo với sử dụng nguồn nhân lực (giữa nhà trường với doanh nghiệp) trên địa bàn Đà Nẵng. Tác giả ả ỉ ra mối quan hệ giữa hai đầu của quá trình trên vẫn còn một số hạn chế ệp sử dụng đúng chuyên ngành đào tạo, hệ số khai thác kiến thức chưa cao. Ngược lại, một số nội dung đào tạo ở các trường chưa thật sự hữu ích đối với doanh nghiệp, một số kỹ năng của sinh viên khi tốt nghiệp chưa nhận được sự hài lòng của người sử dụng. Trên cơ sở kết quả điều tra, bài viết đi sâu phân tích các khía cạnh được, chưa được của mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụngnguồn nhân lực tại Đà Nẵng; tác giả đề xuất hướng giải quyết để mối quan hệ này ngày càng hoàn thiện.
Đặng Xuân Hoan - Tổng Thư ký Hội đồng quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực với bài viết: “Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2015-2020 đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” đã chỉ ra được tầm quan trọng của nguồn nhân lực là “nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia”, “trình độ phát triển của nguồn nhân lực là một thước đo chủ yếu sự phát triển của các quốc gia” và việc phát triển nguồn nhân lực “được coi là một trong ba khâu đột phá của chiến lược chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. Nghiên cứu cũng chỉ ra những yêu cầu đối với phát triển nguồn nhân lực nhìn từ bối cảnh trong nước và quốc tế; thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam về dân số, lao động, thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực. Trên cơ sở Luan van 9 đó, khái quát một số hạn chế về nguồn nhân lực, nguyên nhân của những hạn chế đó và yêu cầu đối với phát triển nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay.