mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về phát triển nguồn nhân lực y tế tại các bệnh viện công lập. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về phát triển nguồn nhân lực y tế tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về phát triển nguồn nhân lực y tế tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1.
Nguồn nhân lực y tế và phát triển nguồn nhân lực y tế tại các bệnh viện công 1. Nguồn nhân lực y tế tại các bệnh viện công 1. Khái niệm nguồn nhân lực Cho đến nay, khái niệm nguồn nhân lực đang đƣợc hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau. Theo đánh giá của Liên Hợp quốc thì, nguồn nhân lực bao gồm những ngƣời đang làm việc và những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động [ 37 ].
Theo Giáo sƣ, Viện sĩ Phạm Minh Hạc thì: “Nguồn nhân lực cần đƣợc hiểu là số dân và chất lƣợng con ngƣời, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của ngƣời lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng đƣợc chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phƣơng nào đó” [23]. Theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam: “Nguồn nhân lực con ngƣời là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đới với nƣớc ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”, đó là “ngƣời lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng và phát triển bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại” [21]. Có thể hiểu một cách ngắn gọn, nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời, là yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trƣởng và phát triển kinh tế, xã hội.
Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, một vùng lãnh thổ hoặc một địa phƣơng (tỉnh, thành phố) và khác với các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ …) ở chỗ, nguồn lực con ngƣời với hoạt động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi thế giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và các quan hệ xã hội. Cụ thể hơn, nguồn nhân lực của một quốc gia biểu hiện ở các khía cạnh sau: 10 -Với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, ở nghĩa rộng nhất thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có khả năng lao động, không phân biệt ngƣời đó đang phân bố vào ngành nghề lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội. - Với tƣ cách là khả năng đảm đƣơng lao động chính của xã hội, nguồn nhân lực đƣợc hiểu nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (do luật lao động quy định). Hiện nay, trong lĩnh vực lao động còn có khái niệm “nguồn lao động” là toàn bộ dân số trong độ tuổi có khả năng lao động.
Do đó với khái niệm này thì nguồn nhân lực tƣơng đƣơng với khái niệm nguồn lao động. - Nguồn nhân lực thể hiện toàn bộ những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động. Với cách hiểu này nguồn lực lao động bao gồm những ngƣời từ giới hạn dƣới của độ tuổi lao động trở lên và có khả năng lao động. Mặc dù có các biểu hiện khác nhau nhƣng nguồn nhân lực của một quốc gia có các đặc điểm quan trọng sau đây: + Nguồn nhân lực là nguồn nhân lực con ngƣời.
+ Nguồn nhân lực là bộ phận của dân số, gắn với cung lao động. + Nguồn nhân lực phản ánh khả năng lao động của xã hội. Nhƣ vậy có thể hiểu, nguồn nhân lực là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng đƣợc chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phƣơng cụ thể. Khái niệm nguồn nhân lực y tế Năm 2006, WHO đã đƣa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những ngƣời tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe” [7].
Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những ngƣời cung cấp dịch vụ y tế, ngƣời làm công tác quản lý và cả nhân viện giúp việc àm không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. 11 Ở Việt Nam các nhóm đối tƣợng đƣợc coi là “Nhân lực y tế” theo quy định của Luật Cán bộ, Công chức số 22/2008/QH12 và Luật Viên chức số 58/2010/QH12 bao gồm: + Công chức, viên chức thuộc biên chế và hợp đồng đang làm việc trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y). + Các cán bộ, nhân viên y tế đang làm trong hệ thống y tế tƣ nhân. + Công chức, viên chức đang làm việc tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dƣợc ở cả khu vực công và khu vực tƣ.
Tóm lại, nguồn nhân lực y tế bao gồm tất cả các công chức, viên chức hoạt động khác nhau trong lĩnh vực y tế nhƣ: công tác khám, chữa bệnh, đào tạo, quản lý. Nhân lực ngành y tế gồm các ngạch bác sĩ, dƣợc sĩ, điều dƣỡng, kỹ thuật viên, kỹ sƣ, công nhân hỗ trợ cho công tác khám chữa bệnh. Khái niệm bệnh viện công Hiện nay, tại Việt Nam trong lĩnh vực y tế có hai khu vực cùng cung cấp các dịch vụ y tế để đảm bảo sức khỏe cho nhân dân, đó là khu vực y tế công lập và khu vực y tế tƣ nhân. + Khu vực y tế công lập: Hệ thống y tế bao gồm các cơ sở y tế do nhà nƣớc thành lập và đƣợc đầu tƣ bằng nguồn ngân sách nhà nƣớc, hoạt động dƣới sự quản lý của nhà nƣớc.
+ Khu vực y tế tƣ nhân: Hệ thống y tế bao gồm các cơ sở y tế đƣợc đầu tƣ bằng vốn ngoài ngân sách nhà nƣớc do tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp đóng góp, đăng ký kinh doanh và quản lý điều hành. Hệ thống y tế tƣ nhân ra đời nhằm đa dạng hóa các loại dịch vụ, thực hiện chủ trƣơng xã hội hóa ngành y tế của Nhà nƣớc. Hệ thống y tế công lập hay dân lập đều phải tuân theo các quy định chuyên môn về khám chữa bệnh của Bộ Y tế. Hệ thống y tế công lập hay dân lập đều đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống y tế Quốc gia.
Do đó, nguồn nhân lực y tế cũng đƣợc chia ra hai khu vực tƣơng ứng: Nhân lực y tế khu vực công và nhân lực y tế khu vực tƣ nhân. 12 Theo đó, Bệnh viện công lập là những bệnh viện do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thành lập và hoạt động dƣới sự quản lý của nhà nƣớc. Là một đơn vị hành chính sự nghiệp cung cấp dịch vụ công về y tế cho ngƣời dân, đồng thời thực hiện nghiệp vụ chuyên môn về y tế. Bệnh viện công lập có những đặc trƣng sau: - Đây là một tổ chức hoạt động phi lợi nhuận, nguồn tài chính hoạt động chủ yếu từ ngân sách nhà nƣớc.
- Mục tiêu hoạt động đem lại cho ngƣời dân những dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất với chi phí hợp lý nhất, mang tính chất phúc lợi xã hội. - Chức năng hoạt động chủ yếu là khám chữa bệnh cho ngƣời dân, ngoài ra còn có chức năng đào tạo nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y tế. - Bệnh viện đƣợc tổ chức hết sức khoa học, các khâu khám bệnh, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc đƣợc gắn kết chặt chẽ với nhau. Vai trò của bệnh viện công lập khác với bệnh viện tư lập thể hiện ở những điểm sau: Thứ nhất: Bệnh viện công lập thực hiện hầu hết các dịch vụ y tế đối với dân cƣ trên các địa bàn.
Bệnh viện công giữ vai trò chủ đạo trong công tác khám chữa bệnh, đáp ứng phần lớn dịch vụ y tế cho ngƣời dân, đảm bảo sức khỏe cơ bản cho ngƣời dân. Góp phần đảm bảo mục tiêu phát triển quốc gia về con ngƣời. Bệnh viện công luôn là một tổ chức đứng đầu trong hệ thống ngành y tế về cung cấp dịch vụ y tế mang tính chất phúc lợi xã hội. Đảm bảo cho ngƣời dân đều đƣợc hƣởng chế độ chăm sóc sức khỏe tốt nhất với chi phí hợp lý, và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc.
Đặc biệt, cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, sự phân hóa giữa các tầng lớp thu nhập ngày càng tăng. Các tổ chức y tế ngoài công lập đều hoạt động vì mục đích lợi nhuận, thì vai trò của tuyến công lập càng đƣợc coi trọng để đảm bảo tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe với nhiều đối tƣợng ngƣời dân trong xã hội. 13 Thứ hai: Đi đầu trong nghiên cứu và thực hiện khoa học lâm sàng, là nơi đào tạo nhiều y bác sĩ giỏi cho cộng đồng. Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính cũng giúp cho các bệnh viện công nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh góp phần thực hiện mục tiêu phúc lợi xã hội, mà tiến tới còn đóng góp nhất định vào ngân sách nhà nƣớc.
Thứ ba: Tƣ vấn cho lãnh đạo Bộ y tế về chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng. Theo quy chế bệnh viện hiện nay thì nhiệm vụ chung của các bệnh viện là: khám bệnh chữa bệnh, đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến, phòng bệnh, hợp tác quốc tế. Theo thống kê hiện nay trên cả nƣớc có hơn 13.400 cơ sở y tế công lập, trong đó có khoảng 11.000 trạm y tế cấp xã và 743 bệnh viện với khoảng 201.000 giƣờng bệnh. Hệ thống các bệnh viện công lập giữa vai trò chủ yếu trong chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Thứ tƣ, hoạt động của các bệnh viện công lập có đặc điểm là phụ thuộc khá nhiều vào nguồn tài chính đƣợc cấp từ ngân sách nhà nƣớc. Chi ngân sách nhà nƣớc dành cho y tế, trong đó chủ yếu dành cho các bệnh viện công lập đang có xu hƣớng gia tăng (Năm 2002, chi ngân sách nhà nƣớc cho lĩnh vực y tế (bao gồm cả chi đầu tƣ phát triển) là 7.