phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Đề tài có kết cấu 03 chƣơng: CHƢƠNG 1: Một số vấn đề lý luận chung về mô hình tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực của Đài Tiếng nói Việt Nam. CHƢƠNG 2: Thực trạng công tác tổ chức và phát triển nguồn nhân lực của Đài Tiếng nói Việt Nam hiện nay CHƢƠNG 3: Xây dựng mô hình tổ chức và nguồn nhân lực của Đài Tiếng nói Việt Nam với tƣ cách là tổ hợp Truyền thông đa phƣơng tiện 5 Luan van Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ NGUỒN NHÂN LỰC CỦA ĐÀI I NG NÓI VIỆT NAM 1. Những khái niệm cơ bản 1.
Khái i v u h Nguồn lực con ngƣời hay nguồn nhân lực là khái niệm đƣợc hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem x t con ngƣời với tƣ cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc gần đây đề cập đến khái niệm nguồn lực con ngƣời hay nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Theo định nghĩa của Liên Hợp quốc UN : "Nguồn nhân lực là trình độ nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ngƣời hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng". Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con ngƣời là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trƣờng sống của họ.
Ngân hàng thế giới WB cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ "vốn ngƣời" thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… mà mỗi cá nhân sở hữu. Nguồn lực con ngƣời đƣợc coi nhƣ là một nguồn vốn bên cạnh các nguốn vốn khác nhƣ tài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… Quan điểm Mác xít về nguồn nhân lực: Coi nguồn lực con ngƣời hay còn gọi là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên ngƣời hàm nghĩa là nhân tố con ngƣời đƣợc xem x t, dự tính nhƣ là một tiềm năng, một điều kiện cần và có thể phát huy thành động lực cho một quá trình phát triển xã hội, một chiến lƣợc phát triển xã hội trong những thời gian, không gian xác định. Nguồn lực con ngƣời thƣờng đƣợc xem x t ở các khía cạnh sau: 6 Luan van - Là số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất. - Là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lƣợng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con ngƣời trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.
- Là sự kết hợp thể lực và trí lực tạo nên năng lực sáng tạo, chất lƣợng, hiệu quả hoạt động và triển vọng phát triển mới của con ngƣời. - Là kinh nghiệm sống, đặc biệt là kinh nghiệm đƣợc tích lũy qua sự nếm trải trực tiếp của con ngƣời tạo thành thói quen, kỹ năng tổng hợp của mỗi con ngƣời, của cộng đồng. Từ đây có thể khái quát, nguồn lực con ngƣời là tổng thể số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con ngƣời và xã hội đã và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Khái niệm nguồn lực con ngƣời bao quát đƣợc những mặt, những khía cạnh, phƣơng diện cơ bản của nguồn lực con ngƣời, khắc phục đƣợc những hạn chế trong nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa các mặt số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và tâm lực, khẳng định nguồn lực con ngƣời vừa là khách thể, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và quan hệ xã hội.
Nói đến nguồn lực con ngƣời tức là nói đến con ngƣời đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Ở đây, cần lƣu ý đến một số vấn đề sau: Thứ nhất, con ngƣời không tồn tại một cách biệt lập, mà liên kết chặt chẽ với nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp của chỉnh thể ngƣời trong hoạt động. Năng lực sức mạnh này bắt nguồn trƣớc hết từ những phẩm chất vốn có bên trong của mỗi con ngƣời và nó đƣợc nhân lên gấp bội trong tổng hợp những con ngƣời cụ thế. Do đó, khi đề cập đến nguồn lực con ngƣời về phƣơng diện xã hội, chúng ta không thể không bàn đến số lƣợng và chất lƣợng của nó.
Thứ hai, nói tới nguồn lực con ngƣời phải nói tới phƣơng diện cá thể - chủ thể của nó. Bởi vì, con ngƣời đóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hƣớng nó tới mục tiêu đã đƣợc chọn. 7 Luan van Phƣơng diện này đƣợc hiểu nhƣ là những yếu tố tạo thành cơ sở hoạt động và cơ sở để phát triển một con ngƣời với tƣ cách là một cá nhân. Đó là sự kết hợp giữa trí lực, thể lực và những phẩm chất khác của nhân cách.
Thứ ba, vai trò của nguồn lực con ngƣời so với các nguồn lực khác trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đƣợc thể hiện ở những điểm sau: - Các nguồn lực khác vốn, tài nguyên thiên nhiên,… tự nó tồn tại dƣới dạng tiềm năng, chúng chỉ trở thành động lực của sự phát triển khi kết hợp với nguồn lực con ngƣời, trở thành khách thể chịu sự cải tạo, khai thác và sử dụng của con ngƣời. - Các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, chỉ có nguồn lực con ngƣời với cốt lõi là trí tuệ mới là nguồn lực có tiềm năng vô hạn, biểu hiện ở chỗ trí tuệ con ngƣời không chỉ tự sản sinh về mặt sinh học mà còn tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất lƣợng trong con ngƣời nếu biết chăm lo, bồi dƣỡng và khai thác hợp lý. Khái i hát triể u h Phát triển nguồn nhân lực: Là quá trình học tập nhằm mở ra cho các cá nhân những công việc mới dựa trên những định hƣớng tƣơng lai của tổ chức. Trang bị những kiến thức nhất định về chubyên môn, nghiệp vụ cho ngƣời lao động, để họ có thể đảm nhận một nghề nào đó, hay để làm tốt hơn một công việc nào đó, hoặc để làm những công việc khác trong tƣơng lai, là toàn bộ những hoạt động tác động vào ngƣời lao động, để ngƣời lao động có đủ khả năng phục vụ cho nhu cầu về lao động trong tƣơng lai.
Khái i v tru th Truyền thông là một quá trình giao tiếp để chia sẻ những hiểu biết, kinh nghiệm, tình cảm. Một quá trình truyền thông đầy đủ gồm các yếu tố: ngƣời gửi, ngƣời nhận, thông điệp, kênh truyền thông và sự phản hồi. Trong truyền thông có sự trao đổi thông tin hai chiều, có sự chuyển đổi vai trò: ngƣời gửi thông điệp cũng đồng thời cũng là ngƣời nhận và ngƣợc lại, ngƣời nhận thông điệp cũng có thể trở thành ngƣời gửi thông điệp. Sự phản hồi trong truyền thông giúp thông tin trao đổi đƣợc chính xác hơn.
8 Luan van Truyền thông là hiện tƣợng xã hội phổ biến, ra đời, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời, tác động và liên quan đến mọi cá thể xã hội. Do đó, hiện tƣợng này có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau, tùy theo góc nhìn đối với truyền thông. Dƣới đây là một số định nghĩa phổ biến: - Theo John R.Hober (1954), “truyền thông là quá trình trao đổi tƣ duy hoặc ý tƣởng bằng lời”.Adelsm, “truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu đƣợc ngƣời khách và làm cho ngƣời khác hiểu đƣợc chúng ta. Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống”.
Barnlund 1964 , „truyền thông là quá trình liên tục nhằm làm giảm độ không rõ ràng để có thể có hành vi hiệu quả hơn”. - Theo Frank Dance ( 1970), “truyền thông là quá trình làm cho cái trƣớc đây là độc quyền của một hoặc vài ngƣời trở thành cái chunng của hai hay nhiều ngƣời. Schachter, “truyền thông là một quá trình qua đó quyền lực đƣợc thể hiện và tính độc quyền đƣợc tăng lên”. - Theo Gerald Miler (1966), “truyền thông, về cơ bản, quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến ngƣời nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ”.
- Dƣới góc độ cấu trúc, Bess Sodel cho rằng, “truyền thông là một quá trình chuyển đổi tè một tình huống đã có cấu trúc nhƣ mộ tổng thể sang tình huống khách theo một thiết kế có chủ đích”. Ngoài ra, có thể dẫn ra hàng trăm định nghĩa, quan niệm khác nhau về truyền thông. Mỗi định nghĩa, quan niệm lại có những khía cạnh hợp lý riêng. Tuy nhiên, các định nghĩa, quan niệm khác nhau này vẫn có những điểm chung, với những nét tƣơng đồng rất cơ bản.
Truyền thông có gốc từ tiếng Latinh là “communicare”, nghĩa là biến nó thành thông thƣờng, chia sẻ, truyền tải. Truyền thông thƣờng đƣợc mô tả nhƣ việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tƣởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một ngƣời/ một nhóm ngƣời sang một ngƣời/ một nhóm ngƣời khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu. Về thực chất, đó chính là quá trình trao đổi, tƣơng tác 9 Luan van thông tin với nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân/nhóm/xã hội, từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, chuyển đổi hành vi cá nhân/nhóm/xã hội. Từ các quan niệm trên, có thể đƣa ra một định nghĩa chung nhất về truyền thông nhƣ sau: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tƣ tƣởng, tình cảm… chia sẻ kĩ năng và kinh nghiệm giữa hai hay nhiều ngƣời nhằm tăng cƣờng hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhau cầu phát triển của cá nhân/nhóm cộng đồng/xã hội.
Khái i v tru th h ti Khái niệm “đa phƣơng tiện” dùng để chỉ các thông tin nhƣ dữ liệu, tiếng nói, đồ họa, hình ảnh tĩnh, âm thanh và phim ảnh đƣợc các mạng truyền đi cùng thời điểm. Nhƣ vậy, truyền thông đa phƣơng tiện có thể hiểu là quá trình truyền thông sử dụng tổng hợp các dạng thông tin nhƣ dữ liệu, tiếng nói, đồ họa, hình ảnh tĩnh, âm thanh và phim ảnh để truyền đi một thông điệp nào đó đến công chúng.