Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và vai trò 1. Một số khái niệm - Nhân lực Nhân lực là sức lực của con người và nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động ( Trịnh Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh.
- Nguồn nhân lực Các khái niệm về nguồn nhân lực bây giờ cũng không lạ gì với nền một nền kinh tế chung của các nước đang trên đà phát triển. Tuy nhiên, cho đến nay có nhiều quan điểm về nguồn nhân lực, phụ thuộc vào kế hoạch mục tiêu mà họ có những quan điểm nhận định về nguồn nhân lực sẽ khác nhau. Một số quan niệm phổ biến như sau: Theo Liên hợp quốc: “ Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế-xã hội trong một cộng đồng ” ( World Bank. Cũng theo các nhà khoa học tham gia chương trình KX-07: “ Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động ” ( Nick Moore.
Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Trịnh Xuân Cầu: NNL là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tìm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội ( Trịnh Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực trên thực tế nhìn nhận nhiều góc độ phân tích thì các quan điểm ấy đều luôn có chung một nội 8 Luan van dung cơ bản thống nhất với nhau: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho cả xã hội. Theo ý nghĩa rộng thì NNL là yếu tố cấu thành lực lượng kinh doanh sản xuất đóng vai trò quan trọng cốt lõi và là nguồn lực căn bản của cả sự phát triển hòa hợp chung cả về chất lượng lẫn về số lượng, đồng thời nó còn là sức mạnh tiềm năng cho cả một thế hệ mai sau, để sáng tạo và xây dựng cho một xã hội văn minh phát triển.
Theo ý nghĩa hẹp thì NNL là lực lượng đóng góp xây dựng cho sự phát triển nền kinh tế trong một đất nước với các nhóm cư dân có trong độ tuổi lao động đủ điều kiện làm việc, bao gồm các yếu tố như phẩm chất đạo đức – kiến thức – sức khỏe của họ được tập trung vào công việc lao động. Từ những quan niệm trên thì người viết cho rằng: Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của một quốc gia, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực và cả thế giới nói chung, nguồn nhân lực là sự tổng hòa hội đủ các phẩm chất được phát huy trong mỗi cá nhân từ thể lực, tâm lực và trí lực giúp họ sáng tạo và luôn tạo ra nhiều của cải vật chất đáp ứng nhu cầu của xã hội .Xét trong phạm vi của một tổ chức, thì nguồn nhân lực của một tổ chức doanh nghiệp là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực, tâm lực của tất cả những người lao động làm việc, có sức khoẻ, trình độ và đạo đức, biết kết hợp nhau để hoàn thành công việc, đạt hiệu quả trong kinh doanh sản xuất. Ngày nay, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra rất nhanh chóng và toàn diện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, vai trò quan trọng của nguồn nhân lực càng được khẳng định rõ ràng, nó trở thành nguồn lực giữ vai trò quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ vừa tạo cho ta cơ hội lớn, vừa đặt ra những thách thức không nhỏ đối với mỗi quốc gia, dân tộc, nhất là các nước đang phát triển như nước ta.
Để vượt qua thách thức, tận dụng cơ hội, vươn lên, theo kịp sự phát triển của thời đại, hơn ai hết, nước ta cần chiến lược phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, hội nhập và toàn cầu hóa. - Quản trị nguồn nhân lực Quản trị NNL bao gồm tổng thể những biện pháp nhằm hướng tác động vào chu kỳ tái sản xuất lao động bao gồm: Sản xuất, phân phối, tiêu dùng. Vị trí 9 Luan van trung tâm của chu kỳ này là khâu tiêu dùng sức lao động. Bởi vì quá trình lao động là sự kết nối giữa các yếu tố vật chất và sự tiêu hao năng lực của con người.
Quản trị NNL chính là việc phải đảm bảo cho tổ chức của mình có nhiều nguồn nhân lực có kỹ năng, có trình độ chuyên môn và họ được sắp xếp vào những vị trí phù hợp với kỹ năng, trình độ của họ, từ đó họ có ý thức tự giác và nỗ lực hoạt động có ích cho tổ chức mình. Thế nên theo ý tác giả “ Quản trị nguồn nhân lực là cả một quá trình chọn lựa và duy trì phát triển luôn tạo điều kiện thuận lợi cho nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, để họ sớm đạt được kế hoạch đặt ra của doanh nghiệp ”. - Phát triển nguồn nhân lực Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực ( PTNNL ) được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Theo cách tiếp cận của các nhà kinh tế hiện đại: Con người là mục tiêu của sự phát triển chứ không phải là nhân tố sản xuất thông thường.
Vì vậy, việc phát triển con người là sự mở rộng các cơ hội lựa chọn, nâng cao năng lực nhằm hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, ấm no và bền vững. Vì thế việc phát triển con người không chỉ là sự gia tăng về thu nhập, của cải vật chất mà còn bao gồm cả việc mở rộng khả năng của con người, tạo cho con người có thể tiếp cận nền giáo dục tốt hơn, chỗ ở tiện nghi hơn và việc làm có ý nghĩa hơn ( Đinh Việt Hoà. Theo UNESCO: PTNNL là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp với sự phát triển của đất nước. Và chỉ nên giới hạn trong phạm vi kỹ năng lao động và thích ứng với nhu cầu việc làm( Võ Xuân Tiến.
2010 ) Theo tổ chức lao động thế giới: PTNNL không chỉ là sự phát triển về trình độ lành nghề thông qua đào tạo nói chung mà còn phát triển năng lực để tiến tới có việc làm hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân ( Võ Xuân Tiến. Theo tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc ( UNIDO ): Phát triển con người một cách hệ thống vừa là mục tiêu, vừa là đối tượng của sự phát triển một quốc gia. Nó bao gồm một khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội như khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đào tao và hoạt động thực tiễn ( Võ Xuân Tiến. 10 Luan van Tuy nhiên, trong nội dung luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm PTNNL là quá trình biến đổi cả về số lượng và chất lượng, cơ cấu nhân lực và đảm bảo sự phù hợp của nhân lực đối với doanh nghiệp.
Đó là chuỗi các hoạt động từ công tác quy hoạch phát triển nhân lực, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và công tác quy hoạch đào tạo cán bộ như thế nào để có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đòi hỏi cho sự phát triển của tổ chức trong từng giai đoạn ( Nguyễn Lộc. Vai trò của phát triển nguồn nhân lực Nhân lực luôn được xem là một yếu tố tạo nên sự thành công của tổ chức, nhân lực là nguồn lực có giá trị, không thể thiếu đối với một hoạt động của tổ chức hay doanh nghiệp, đồng thời hoạt động của bản thân nó thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố tạo nên tính đa dạng và phức tạp của nguồn nhân lực. Chính vì vậy nguồn nhân lực có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức cũng như của một doanh nghiệp. Vai trò của nguồn nhân lực chính là vai trò của con người và được thể hiện: + Với tư cách là người sản xuất con người có vai trò quyết định đối với sự phát triển.
Con người là nguồn lực sản xuất chính. + Với tư cách là người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ: Để tồn tại và phát triển con người cần được đáp ứng mọi nhu cầu vật chất lẫn tinh thần. Vì vậy sự tiêu dùng của con người chính là động lực cho mọi sự phát triển và là mục tiêu của mọi doanh nghiệp luôn hướng tới. Để không ngừng thỏa mãn những nhu cầu của con người trong điều kiện nguồn lực khan hiếm con người ngày càng phát huy khả năng về thể lực và trí lực của mình để đáp ứng nhu cầu của mình.
Chính vì vậy sự thỏa mãn và đáp ứng nhu cầu của con người là động lực của sự phát triển. Với mục tiêu của phát triển nguồn nhân lực là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, trình độ tay nghề và chuyên môn nghiệp vụ được nâng cao và thực hiện nhiệm vụ được giao được tự giác, độc lập hơn, với thái độ làm việc tốt hơn, cũng như việc nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc dự kiến thực hiện trong tương lai. Nội dung phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Về số lượng nguồn nhân lực PTNNL về số lượng chính là việc gia tăng số lượng và đảm bảo cân đối nhân lực trong doanh nghiệp thông qua hoạt động nhất định (Vũ Bá Thể.
Tại các doanh nghiệp, các hoạt động được tiến hành để phát triển số lượng nguồn nhân lực đó chính là hoạt động tuyển dụng nguồn nhân lực.