CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và đầu tư phát triển nguồn nhân lực 1. Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực Tùy theo góc độ nghiên cứu, tuỳ theo quan điểm khác nhau của các bài nghiên cứu nên có nhiều khái niệm về nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn bao gồm cả thể lực và trí lực, kỹ năng nghề nghiệp mà mọi cá nhân sở hữu.
Vốn nhân lực được hiểu là con người dưới một dạng nguồn vốn, thậm chí là nguồn vốn quan trọng nhất đối với quá trình sản xuất, có khả năng sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai. Nguồn vốn này là tập hợp những kỹ năng kiến thức kinh nghiệm được nhờ vào quá trình lao động sản xuất. Do vậy các chi phí về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng,… để nâng cao khả năng sản xuất của nguồn nhân lực được xem như chi phí đầu vào của sản xuất, thông qua đầu tư vào con người (Stivastava M/P, 1997). Nguồn nhân lực hay còn được gọi là nguồn lực con người, là một trong những yếu tố quan trọng có tác động tới mọi hoạt động kinh doanh, sản xuất của một doanh nghiệp, công ty hoặc tổ chức… Tùy theo góc độ tiếp cận nghiên cứu mà có nhiều định nghĩa về nguồn nhân lực khác nhau.
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc (2009), “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực toàn bộ cuộc sống của con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”. Định nghĩa này xuất phát từ đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực. Nhân lực chính là lao động của con người mà không hết máy móc nào thay thế được. Con người là tài sản quan trọng nhất mà một doanh nghiệp có.
Sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc vào tính hiệu quả của cách “quản lý con người ” bao gồm cả cách quản lý chính bản thân mình, quản lý nhân viên, khách hàng và các nhà cung cấp. Hay nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động (Nguyễn Vân Điềm, 2004). Theo Nguyễn Tiệp (2005) thì: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động”. Đây là khái niệm chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.
“Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động”. Đây là khái niệm chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội. 5 Theo Phạm Minh Hạc (2001) : “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một doanh nghiệp, công ty, tổ chức hoặc một địa phương, quốc gia. Họ sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó theo yêu cầu của doanh nghiệp, công ty, tổ chức hoặc quốc gia”.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ địa phương và nó khác với các nguồn lực khác ở chỗ nguồn lực với hoạt động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các vấn quan hệ lao động và quan hệ xã hội, cụ thể hơn nguồn nhân lực của một quốc gia biểu hiện ở các khía cạnh sau đây: - Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội bao gồm toàn bộ dân cư trong xã hội có khả năng lao động. - Với tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội thì nguồn nhân lực là khả năng lao động ở các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. - Với tư cách là tổng thể cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động thì nguồn nhân lực bao gồm cả yếu tố về thể lực và trí lực, thuộc những người có giới hạn tuổi từ 15 trở lên.
Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Trong mỗi doanh nghiệp, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng, không thể thiếu quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Do đó, nhà quản lý cần phải quan tâm, bồi dưỡng nguồn nhân lực của mình để đảm bảo nguồn nhân lực đủ mạnh cả về chất và lượng, đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp không chỉ ở hiện tại mà trong cả tương lai.
Theo Bùi Văn Nhơn (2016) thì nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương. Như vậy, có nhiều khái niệm về nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, trong phạm vi của nghiên cứu này có thể hiểu: nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là tất cả các cá nhân tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm yếu tố cả về thể lực trí lực và kỹ năng nghề nghiệp. Bao gồm những cá nhân có vai trò khác nhau và 6 liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực được coi là tiềm năng có tác động đến mọi hoạt động trong xã hội nói chung và trong doanh nghiệp nói riêng.
Cơ sở lý luận về đầu tư phát triển nguồn nhân lực 1. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Về phát triển nguồn nhân lực thì cũng có nhiều định nghĩa khác nhau ở các góc độ tiếp cận khác nhau được thể hiện như sau: Phát triển nguồn nhân lực là nghiên cứu và thực hành nâng cao năng lực học tập của các cá nhân, nhóm, tập thể và các tổ chức thông qua việc phát triển và ứng dụng các biện pháp can thiệp học tập với mục đích tối ưu hóa sự phát triển và tính hiệu quả của con người và tổ chức (Chalofsky,1992). Phát triển nguồn nhân lực là quản lý chiến lược đào tạo, phát triển và quản lý hoặc can thiệp giáo dục chuyên nghiệp, để đạt được các mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời vẫn bảo đảm đầy đủ việc sử dụng các kiến thức cụ thể và các kỹ năng của từng cá nhân người lao động (Garavan, 1991). Phát triển nguồn nhân lực là việc tạo ra một văn hóa học tập, trong đó bao gồm một loạt các chiến lược đào tạo, phát triển và học tập nhằm vừa ứng phó với chiến lược của tổ chức vừa giúp hình thành và ảnh hưởng lại nó (McCracken và Wallace, 2000).
Phát triển nguồn nhân lực tập trung vào lý thuyết và thực hành liên quan đến đào tạo, phát triển và học tập trong các tổ chức và các cá nhân trong bối cảnh hình thành chiến lược kinh doanh và năng lực cạnh tranh của tổ chức (Gourlay, 2000). Theo tác giả Nguyễn Phan Thu Hằng (2017) đề xuất quan điểm của mình về phát triển NNL tại các doanh nghiệp như sau: phát triển nguồn nhân lực là quá trình thay đổi về số lượng, cơ cấu, chất lượng nhân lực đáp ứng yêu cầu sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời nâng cao trình độ nghề nghiệp, cải thiện hiệu quả làm việc của nhân lực và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo Bùi Văn Nhơn (2016), “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển”. Theo sách Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo: Kinh nghiệm Đông Á của Viện Kinh tế thế giới (2003): “Phát triển nguồn nhân lực, xét từ góc độ một đất nước là quá trình tạo dựng lực lượng lao động năng động có kỹ năng và sử dụng chúng có hiệu quả, xét từ góc độ cá nhân là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động và thu nhập.
Phát triển nguồn 7 nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất. Kiến thức có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu kinh nghiệm, trong khi đó thể lực có được nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế”. Theo Trần Xuân Cầu (2008), “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá; truyền thống lịch sử Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm cho con người trưởng thành, có năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao”.
Như vậy, phát triển nguồn nhân lực là quá trình thay đổi về số lượng, cơ cấu, chất lượng nhân lực đáp ứng yêu cầu sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời nâng cao trình độ nghề nghiệp, cải thiện hiệu quả làm việc của nhân lực và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Ngày nay, con người được coi là một tài nguyên đặc biệt, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy, việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Khái niệm đầu tư phát triển nguồn nhân lực Theo Nguyễn Lộc (2010), phát triển nguồn nhân lực là quá trình biến đổi cả về số lượng và chất lượng, cơ cấu nhân lực và đảm bảo sự phù hợp của nhân lực đối với doanh nghiệp.