CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Nguồn nhân lực Thuật ngữ nguồn nhân lực xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Cùng với sự phát triển của thời đại, thuật ngữ này đã không ngừng thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế và có vị trí ngày càng quan trọng trong tổ chức.
Hiện nay, có nhiều định nghĩa về nguồn nhân lực như sau: Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức. Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. [21, Trang 256] Nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng lao động mà doanh nghiệp cần huy động cho việc thực hiện, hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp. Nguồn nhân lực là tổng thể cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
Từ quan điểm trên, có thể hiểu: Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng của con người, trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động, bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách, được huy động vào quá trình lao động nhằm đáp ứng mục tiêu của doanh nghiệp. Phát triển nguồn nhân lực Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực: Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động. [3] Phát triển nguồn nhân lực là quá trình thúc đẩy việc học tập có tính tổ chức, nâng cao kết quả thực hiện công việc, và tạo ra thay đổi thông qua việc tổ chức thực hiện các giải pháp (chính thức và không chính thức), các sáng kiến và các hoạt động quản lý nhằm mục đích nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức, khả năng cạnh tranh và đổi mới. [10] Phát triển nguồn nhân lực là việc xem xét cách thức tổ chức bố trí, sắp xếp công việc, nâng cao kiến thức, khuyến khích người lao động để phát triển và sử dụng hết tiềm năng của người lao động nhằm thực hiện được mục tiêu của tổ chức.
Nó cũng xem xét đến sự nỗ lực của tổ chức nhằm tạo dựng và duy trì môi trường làm việc, bầu không khí hưởng ứng của người lao động hướng tới sự hoàn hảo trong các hoạt động và sự phát triển của cá nhân cũng như của tổ chức. Đây là hoạt động thường xuyên của bộ phận nguồn nhân lực trong quá trình đảm bảo nhân lực cho tổ chức. Phát triển nguồn nhân lực ở một tổ chức là phát triển về số lượng đi kèm với quá trình phát triển chất lượng thông qua chương trình đào tạo huấn luyện và đào tạo lại nhằm đáp ứng với yêu cầu đảm bảo nhân sự từ bên trong của tổ chức.TS Võ Xuân Tiến: ”.thực chất của việc phát triển nguồn nhân lực là tìm cách nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực đó”. Và ”nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là quá trình tạo lập và phát triển năng lực toàn diện của con người vì sự tiến bộ kinh tế và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người.
Phát triển nguồn nhân lực: sự kết hợp của đào tạo chính thức, kinh Luan van 8 nghiệm công việc, các mối quan hệ, và đánh giá cá nhân và khả năng để giúp nhân viên chuẩn bị cho tương lai sự nghiệp của họ. [22] Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để tạo ra sự thay đổi về hành vi nghề nghiệp cho người lao động được thực hiện bởi doanh nghiệp. Theo khái niệm này thì nội dung phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát triển. Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai.
Đào tạo: được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. Phát triển: là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức. Đào tạo và phát triển tuy có sự giống nhau là đều trang bị kiến thức, kỹ năng cho người lao động nhưng thực chất là hai hoạt động khác nhau.
Sự khác biệt này thể hiện ở bảng dưới đây: Các tiêu chí Đào tạo Phát triển Tập trung Hiện tại Tương lai Sử dụng Thấp Cao kinh nghiệm công việc Chuẩn bị cho Chuẩn bị cho sự Mục tiêu công việc hiện tại thay đổi Thời gian Ngắn hạn Dài hạn Tham gia Bắt buộc Tự nguyện Luan van 9 Từ sự phân tích các khái niệm phát triển nguồn nhân lực trên, có thể nhận định rằng: Phát triển nguồn nhân lực là chuẩn bị tương lai cho các cá nhân, là tổng thể các hoạt động học tập nhằm tạo ra sự thay đổi về nghề nghiệp bản thân, phát triển năng lực của cá nhân giúp họ thành công trong tương lai, mở ra cho họ khả năng làm việc mới dựa trên sự phát triển tương lai của tổ chức và nhu cầu của bản thân người lao động. Nội dung của khái niệm trên được hiểu như sau: Học tập có tính tổ chức: lãnh đạo tổ chức khuyến khích nhân viên học tập nâng cao trình độ, cung cấp cơ hội học tập cho người lao động. Người học cam kết học tập với mục tiêu, kế hoạch học tập rõ ràng và có sự chuẩn bị cho việc đánh giá. Nâng cao kết quả thực hiện công việc: Các hoạt động phát triển nguồn nhân lực đều quan tâm trực tiếp đến kết quả thực hiện công việc: cả công việc hiện tại và tương lai.
Việc cung cấp đúng những kinh nghiệm, kiến thức mà nhân viên thiếu sẽ góp phần nâng cao kết quả thực hiện công việc của họ. Phát triển cá nhân: phát triển cá nhân rộng hơn việc trang bị kiến thức hay phát triển kỹ năng, nó bao gồm cả sự trưởng thành và phát triển cá nhân mà họ có thể áp dụng vào công việc hiện tại. Mục tiêu của phát triển cá nhân là phát triển kiến thức, kỹ năng, và năng lực và nhờ đó thay đổi hành vi phù hợp với công việc hiện tại và đáp ứng được nhu cầu trước mắt của tổ chức cũng như nhu cầu của cá nhân. Như vậy phát triển nguồn nhân lực sẽ góp phần làm thay đổi chất lượng nguồn nhân lực về mặt trí lực.
NỘI DUNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA TỔ CHỨC 1. Đánh giá nhu cầu phát triển Để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của mình, các tổ chức cần xác Luan van 10 định rõ những tài năng hiện có trong tổ chức của họ cũng như những tài năng mà họ cần tìm kiếm. Đối với những tổ chức áp dụng các phương pháp đánh giá nhân viên nghiêm ngặt sẽ có thể đưa ra những quyết định chọn người đúng đắn. Nhân viên cần biểu hiện được những giá trị hành vi có thể hỗ trợ cho sự thành công của tổ chức.
Vậy làm thế nào để tạo ra năng lực khác biệt trong đội ngũ lao động của doanh nghiệp. Các tổ chức cần đánh giá khả năng của mỗi nhân viên về năng lực của họ trong công việc và trong tổ chức. Việc đánh giá nhân viên giúp xác định sự phù hợp của mỗi nhân viên đối với những công việc riêng biệt trong tổ chức. Việc này còn giúp xác định chính xác sự chênh lệch trong hiệu quả công việc của những nhân viên khác nhau và cho phép đưa ra những chiến lược phát triển cho mỗi cấp độ của tổ chức.
Một khi đã đặt ra những kế hoạch phát triển thì cần theo dõi để đảm bảo những hoạt động này thực sự làm tăng hiệu quả công việc của nhân viên. Như vậy, tổ chức muốn phát triển nguồn nhân lực trong tương lai thì trước hết phải xác định năng lực cần thiết của nhân viên nói chung cũng như ở từng vị trí công việc. Xác định nội dung năng lực Rankin (2002) mô tả năng lực như là định nghĩa của kỹ năng, hành vi mà tổ chức mong đợi đội ngũ nhân viên của họ thể hiện trong công việc và giải thích rằng: ”Năng lực trình bày ngôn ngữ của hiệu quả. Nó nói lên được kết quả của sự mong đợi từ nỗ lực cá nhân và cách mà những hoạt động này được thực hiện với nhau”.
Năng lực là sự tổng hòa của các yếu tố kiến thức, kỹ năng, hành vi, thái độ góp phần tạo ra tính hiệu quả trong công việc của mỗi người. Về kiến thức của người lao động - Kiến thức là những điều hiểu hiết có được hoặc do từng trải, hoặc Luan van 11 nhờ học tập. Nó gồm 3 yếu tố: kiến thức tổng hợp, kiến thức chuyên ngành, kiến thức đặc thù cần thiết để đảm đương các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động khác. - Kiến thức tổng hợp: Những hiểu biết chung về thế giới - Kiến thức chuyên ngành: Hay còn gọi là kiến thức chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực đặc trưng như: tài chính, nhân sự, kế toán.
- Kiến thức đặc thù: Những kiến thức đặc trưng mà người lao động trực tiếp tham gia hoặc được đào tạo. Vì vậy, kiến thức của người lao động có được chủ yếu là thông qua đào tạo. Cho nên bất kỳ tổ chức nào cũng phải coi trọng công tác đào tạo. Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ yêu cầu người lao động phải có trình độ học vấn cơ bản, trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động tốt, để có khả năng tiếp thu và áp dụng công nghệ mới.