chương 1 sẽ khái quát các nghiên cứu hiện có trên đối tượng, từ đó xây dựng cơ sở lý luận, thực tiễn cho việc áp dụng doanh nghiệp ở các chương sau. Các khái niệm và phương pháp được chọn lựa áp dụng sẽ được đúc rút trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu bên dưới. Khái niệm và nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực Đề tìm hiểu khái niệm phát triển nguồn nhân lực thì trước hết chúng ta cần tìm hiểu khái niệm nguồn nhân lực. Theo định nghĩa hẹp, nguồn nhân lực có thê được hiểu là nguồn lao động.
Do đó, nó có thể được định lượng là một bộ phận dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động, hay còn gọi là lực lượng lao động. Còn theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ. Bên cạnh nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chat, đây là một bộ phận trong các nguôn lực có khả năng huy động tô chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tùy theo cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau mà nguồn nhân lực được hiểu theo những ý nghĩa khác.
Theo góc độ vĩ mô thì nguồn nhân lực là dân số trong độ tuôi lao động có khả năng lao động. Ở góc độ vĩ mô doanh nghiệp thì nguồn nhân lực chính là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là sé người có trong danh sách của doanh nghiệp do doanh nghiệp trả lương, là tất cả thành viên tham gia hoạt động cho doanh nghiệp. Nguồn nhân lực được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và liên kết với nhau bời hướng chung đến những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp vì bản chất độc đáo là con người.
Nhân viên có những khả năng và đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng thành lập các hiệp hội và nghiệp đoàn để bảo vệ lợi ích của họ, có thê đặt câu hỏi và đánh giá về công tác quản trị. Hành vi của họ có thể thay đổi tùy thuộc vào bản thân họ hoặc ảnh hưởng của môi trường xung quanh. Dưới góc độ vi mô và vĩ mô, nguồn nhân lực là tất cả những tiềm năng của con người trong một tô chức, xã hội, bao gồm cả các thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp. Tat cả các thành viên của doanh nghiệp sử dụng kiến thức, ứng xử và các giá trị đạo đức của mình để thiết lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.
Tài sản con người bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, đảo tạo và sức công hiến, nỗ lực hoặc bất kỳ đặc điểm nào khác làm tăng giá trị và khả năng cạnh tranh cho tô chức của người lao động. Không chỉ vậy, ở góc độ doanh nghiệp, nguồn nhân lực là lực lượng lao động, tất cả các thành viên tham gia hoạt động cho doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương. Vì vậy, nguồn nhân lực được nghiên cứu về số lượng và chất lượng. Trong đó số lượng nguồn nhân lực được thể hiện thông qua các chỉ tiêu về quy mô, tốc độ tăng trưởng và phân bé nguồn nhân lực.
Trong khi đó, chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu về trí tuệ, thể lực và nhân cách, thâm mỹ của người lao động. Tóm lại, nguồn nhân lực con người là tổng thể tiềm năng của con người trong đó trí lực, thể lực và đạo đức là những yếu tố quan trọng dé quyét dinh chat lượng và sức mạnh cua nguồn nhân lực. Cũng giống như khái niệm “nguồn nhân lực”, khái niệm “phát triển nguôn nhân lực” dân được hoàn thiện và tiêp cận dưới nhiêu góc độ khác nhau. Theo quan điểm “con người là nguồn gốc — là vốn”, phát triển nguồn nhân lực là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực có số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
xã hội, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân. Theo quan điểm sử dụng năng lực con người của tổ chức lao động quốc tế, phát triển nguồn nhân lực không chỉ bao gồm việc tiếp thu các kỹ năng mà bên cạnh phát triển năng lực là làm cho con người có năng lực hơn được tính toán trên nhu cau sử dung năng lực đó dé dẫn đến việc công tác hiệu quả cũng như sự hài lòng về nghề nghiệp và cá nhân. Tóm lại, mặc du có nhiều cách tiếp cận nhưng phát triển nguồn nhân lực chung nhất là quá trình tạo ra sự thay đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực với việc nâng cao hiệu quả sử dụng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của con người, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, khu vực, ngành hoặc doanh nghiệp. Nói cách khác, phát triển nguồn nhân lực là tập hợp các phương pháp, chính sách nhằm hoàn thiện và nâng cao năng lực lao động xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội cho từng giai đoạn phát triển.
Phát triển nguồn nhân lực không chỉ mang lại nguồn nhân lực tốt mà còn phải sử dụng tốt nguồn nhân lực đó, đáp ứng nghề nghiệp và lối sống cho mỗi cá nhân. Phát triển nguồn nhân lực không chỉ phải phát triển về trình độ chuyên môn mà còn phải phát triển đẹp, trong đó yếu tố giáo dục phải được đặt lên hàng đầu. Phân loại nguồn nhân lực Ngoài một số cách phân loại nguồn nhân lực thường dùng như phân loại theo quy mô, co cấu chất lượng, khi chuyển sang nén kinh tế tri thức, lực lượng lao động được phân loại theo hướng tiếp cận công viéc, nghề nghiệp của người lao động. Theo đó, lực lượng lao động được chia thành nhân viên thông tin và nhân viên phi thông tin.
Nhân viên thông tin được chia thành hai loại: nhân viên tri thức và nhân viên dữ liệu. Nhân viên dir liệu bao gồm thư ký, kỹ thuật viên, v., những người làm việc chủ yếu với thông tin được mã hóa, trong khi nhân viên tri thức phải đối phó với việc tạo ý tưởng hoặc chuân bị cho công việc mã hóa thông tin. Lao động quản lý năm giữa hai loại lao động này. Công nhân phi thông tin được chia thành công nhân sản xuất hàng hóa và công nhân cung cấp dịch vụ.
Lao động phi thông tin đễ dàng được hệ thống hóa và thay thế bằng kỹ thuật và công nghệ. Như vậy, chúng ta có thể phân loại lực lượng lao động thành 5 loại: lao động tri thức, lao động quan lý, lao động dữ liệu, lao động dịch vụ và cuối cùng là lao động sản xuất hàng hóa. Mỗi loại hình lao động này đều có những đóng góp khác nhau vào việc tạo ra sản phẩm. Mức độ tập trung cao hay thấp của tri thức và trí tuệ trong sản phâm phụ thuộc chủ yếu vào sự đóng góp của lực lượng lao động tri thức, quản lý và phần nào của lao động dữ liệu.
Đặc diém phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo quan điểm của quản tri nhân lực hiện đại, PGS. Trần Kim Dung cho rằng “nguồn nhân lực của một tô chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có các vai trò khác nhau và liên kết với nhau nhằm đạt được các mục tiêu nhất định của tổ chức ”. Nguồn nhân lực có bản chất con người với khả năng sáng tạo, nhu cầu, động cơ khác nhau và các đặc điểm tâm - sinh lý của từng cá nhân. Họ có kha năng thành lập các nhóm và tổ chức công đoàn dé bảo vệ lợi ích của họ.
Hành vi của họ có thể thay đôi tùy thuộc vào bản thân họ hoặc vào ảnh hưởng của môi trường xung quanh. Tuy nhiên, điểm khác biệt và vượt trội của nguồn nhân lực so với các nguồn lực khác ở chỗ: Là nguồn lao động sống, quá trình sáng tạo tạo ra giá trị lớn hơn chính nó. Mức độ tai tạo phụ thuộc vao thù lao. Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực quyết định hiệu quả của các nguồn lực khác trong doanh nghiệp.
Sức mạnh của nguồn nhân lực trong một doanh nghiệp gắn liền với sức mạnh của đội ngũ lao động, sức mạnh của đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Sức mạnh đó là sức mạnh tong hợp từ lao động của một nhóm người lao động, sức mạnh từ khả năng lao động của từng người. Vì vậy, so với các nguồn lực khác, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là bộ phận trong tông thé nguồn nhân lực của một quốc gia, vùng lãnh thé nhất định. Vì vậy, phát triển nguôồn nhân lực của doanh nghiệp phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với phát triển nguồn nhân lực của quốc gia và vùng lãnh thổ dưới sự tác động của chính sách và chiến lược phát triển nguồn nhân lực của đất nước, các vùng lãnh thổ và thậm chí toàn cầu.
Thứ hai, nguồn nhân lực của doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là bổ sung năng lực làm việc cá nhân của mỗi người mà nó còn phụ thuộc vào khả năng làm việc nhóm của những người trong tô chức. Tức là phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp không chỉ nâng cao khả năng lao động của mỗi cá nhân thê hiện ở chất lượng lao động mà còn phát triển và hoàn thiện các yếu tố nâng cao khả năng làm việc nhóm ví dụ như bố trí công việc phù hợp, Sở trường, chế độ đãi ngộ, cải thiện môi trường làm việc. Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp gắn liền với mục tiêu của doanh nghiệp và phải được hoạch định từ mục tiêu của chính doanh nghiệp đó. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp phải xuất phát từ mục tiêu.
Chiến lược phát triển các nguồn lực trong doanh nghiệp tương ứng cần phải xuất phát từ mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp và phương hướng giải quyết mục tiêu đó. Thứ tư, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là nguồn lực bên cạnh các nguôn lực khác như von, công nghệ. nhưng khác với các nguôn lực khác vê bản chất vai trò của nó đối với doanh nghiệp: con người. Con người phải chịu sự chi phối của các yếu tô tâm - sinh lý thì quá trình sử dụng sẽ tạo ra giá tri lớn hơn giá trị của bản thân, đồng thời nó có vai trò quyết định trong việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hay nguồn sức mạnh khác của doanh nghiệp.