CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH TƯ PHÁP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực không phải là một phạm trù mới, nó đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới nhưng mới được biết đến ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Mặc dù còn mới mẻ nhưng khái niệm này đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, nó được sử dụng không chỉ trong nghiên cứu khoa học mà còn được sử dụng nhiều trong các tổ chức doanh nghiệp và các cơ quan, trường học trong cả nước.
Từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì vấn đề NNL trở thành đề tài nhận được quan tâm đặc biệt. Khái niệm NNL đã được nhiều tác giả, nhà khoa học, nhà kinh tế nghiên cứu, phân tích và đề cập ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. NNL là một khái niệm rất rộng, rất phong phú và đa dạng, vì vậy hiện nay vẫn còn có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm này. Xin nêu một số quan điểm: - Trong lý thuyết về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó quyết định NSLĐ và tiến bộ xã hội.
Ở đây, con người được xem xét từ góc độ là LLLĐ cơ bản của xã hội. - Theo thuyết tăng trưởng kinh tế, thì NNL chính là nguồn lực chủ yếu tạo động lực cho sự phát triển. Vì vậy, NNL được coi là yếu tố cơ bản hàng đầu và đóng một vai trò quyết định đối với sự tăng trưởng kinh tế. - Theo đánh giá của Liên hợp quốc thì, nguồn nhân lực bao gồm những người đang làm việc và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
11 - Theo giáo sư, tiến sỹ khoa học Phạm Minh Hạc: “nguồn lực con người cần được hiểu là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [14, tr40]. - Theo quan điểm của một số nhà khoa học khác, thì NNL được xem là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất, tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực, phẩm chất, thái độ và phong cách lao động. Chất lượng NNL phải gắn liền với truyền thống văn hoá dân tộc. Tuy có các quan niệm khác nhau về NNL, nhưng nhìn chung các quan điểm đều có sự thống nhất chung ở những nội dung cơ bản sau: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, giữ vai trò trung tâm và quyết định đến sự phát triển KT-XH của một quốc gia, đồng thời là một chỉ tiêu đánh giá sự phát triển, tiến bộ xã hội của quốc gia đó.
Khi xem xét NNL người ta có thể xem xét trên hai góc độ, số lượng và chất lượng của NNL. Về số lượng: NNL được hiểu thông qua các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng trưởng của NNL. Các chỉ tiêu này có liên quan mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số, tuổi thọ bình quân. Số lượng NNL đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT-XH của mỗi quốc gia.
Nếu số lượng NNL không tương xứng với sự phát triển (thiếu hoặc thừa) thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển KT-XH của quốc gia đó. Như vậy, số lượng NNL được đo bằng tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số người lao động dự phòng. Nhưng đối với một doanh nghiệp, hay một cơ quan hành chính nhà nước thì NNL không bao gồm những người trong độ tuổi lao động của toàn xã hội mà chỉ tính những người trong độ tuổi lao động đang làm việc tại doanh nghiệp hay một cơ quan hành chính nhà nước. Về chất lượng: NNL được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần, thái độ, 12 động cơ và ý thức lao động.
Nói đến chất lượng lao động của NNL là nói đến hàm lượng trí tuệ, trong đó bao gồm trình độ tay nghề, phẩm chất đạo đức và tinh thần, thái độ làm việc. Ba mặt thể lực, trí lực, tinh thần thái độ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và thống nhất cấu thành mặt chất lượng NNL. Trong đó thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ của con người vào hoạt động thực tiễn, ý thức, tinh thần, đạo đức, tác phong là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hoá của thể lực, trí tuệ thành thực tiễn. Trí tuệ là yếu tố quyết định chất lượng NNL.
Như vậy, khái niệm nguồn nhân lực ngoài nghĩa rộng được hiểu như khái niệm “nguồn lực con người”, thường còn được hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn lao động (số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số người lao động dự phòng), thậm chí có khi còn được hiểu là LLLĐ (số người trong độ tuổi lao động mà có khả năng lao động). Tổng quát có thể nói rằng, NNL bao gồm các mặt thể lực, trí lực, tinh thần và được đánh giá thông qua về số lượng và chất lượng NNL. Từ những quan niệm trên có thể hiểu: NNL là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ LLLĐ xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của một đất nước. Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn nhân lực, là sự kết hợp của các yếu tố sau: - Thể lực: Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của tứng cá nhân cụ thể.
Một cơ thể khỏe mạnh, thích nghi với môi trường sống thì năng lượng do nó sinh ra sẽ đáp ứng yêu cầu của một hoạt động cụ thể nào đó. Thể lực có ý nghĩa quan trọng, quyết 13 định năng lực hoạt động của con người. Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội. - Trí lực: Trí lực là tập hợp các kiến thức chung về khoa học, trình độ kiến thức chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc và khả năng tư duy của mỗi con người.
Trí lực thực tế là một hệ thống thông tin đã được xử lý và lưu giữ lại trong trí nhớ của mỗi cá nhân con người và được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau. Nó được hình thành và phát triển thông qua giáo dục và đào tạo cũng như quá trình lao động sản xuất. - Đạo đức, phẩm chất: Đạo đức, phẩm chất là những đặc điểm quan trọng trong yếu tố xã hội của nguồn nhân lực, bao gồm toàn bộ tình cảm, tập quán, phong cách, thói quen, quan niệm, truyền thống, các hình thái tư tưởng, đạo đức, nghệ thuật. gắn liền với truyền thống văn hóa.
Một nền văn hóa với bản sắc riêng luôn là sức mạnh nội tại của một dân tộc. Kinh nghiệm thành công trong phát triển kinh tế của Nhật Bản và các nước NICs châu Á là tiếp thu kỹ thuật phương Tây trên cơ sở khai thác và phát huy các giá trị tốt đẹp của nền văn hóa dân tộc để đổi mới và phát triển. Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau và là tiền đề phát triển của nhau. Muốn nâng cao chất lượng NNL phải nâng cao cả ba mặt: thể lực, trí lực và đạo đức, phẩm chất.
Tuy nhiên, mỗi yếu tố trên lại liên quan đến các lĩnh vực rộng lớn khác. Thể lực gắn với dinh dưỡng, y tế và chăm sóc sức khỏe; trí lực gắn với lĩnh vực giáo dục đào tạo, còn đạo đức, phẩm chất chịu ảnh hưởng của truyền thống văn hóa dân tộc, nền tảng văn hóa và thể chế chính trị. Vì vậy, để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực thường phải xem xét trên ba mặt: sức khỏe, trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật, năng lực, phẩm chất của người lao động. 14 Như vậy, chất lượng của nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất.
Nó thể hiện trạng thái nhất định của NNL với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng NNL là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của NNL. Nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển KT-XH cũng như mức sống, dân trí của dân cư. Cách mạng khoa học kỹ thuật và xu thế toàn cầu hóa đang tác động đến sự phát triển của NNL.
Sự vận động tích cực của NNL ở trình độ ngày càng cao hơn mang tính quy luật, là cơ sở để cải biến xã hội và không ngừng nâng cao đời sống vật chất - tinh thần và hoàn thiện con người lao động. Giữa chất lượng NNL và NNL chất lượng cao có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Nói đến chất lượng NNL là muốn nói đến tổng thể NNL của một quốc gia, trong đó NNL chất lượng cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng nhất. Bởi vậy, khi bàn về NNL chất lượng cao không thể không đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lượng NNL nói chung của một đất nước.
NNL chất lượng cao là NNL phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường, đó là: có kiến thức: chuyên môn, kinh tế, chính trị, pháp luật, ngoại ngữ, tin học; có kỹ năng: kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc. Trong thế giới hiện đại, khi chúng ta đang chuyển dần sang nền kinh tế trí thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, NNL chất lượng cao ngày càng thể hiện rõ vai trò và tầm quan trọng của nó.