CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI BỀN VỮNG Nhận thức đúng về nguồn lực con người gắn liền với sự nhận thức đúng về phát triển kinh tế - xã hội bền vững đòi hỏi phải không ngừng nâng cao trình độ con người một cách toàn diện: trí, đức, thể , mỹ.1 Nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững 1.1 Khái niệm nguồn lực con người Khái niệm về nguồn lực con người hay nguồn nhân lực khá đa dạng, được đề cập từ nhiều góc độ khác nhau nhưng tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, có thể hiểu: Nguồn nhân lực hay nguồn lực con người là tổng thể số lượng dân và chất lượng con người, là tổng thể thể lực, trí lực, kinh nghiệm sống, nhân cách, lý tưởng, chất lượng văn hóa, năng lực chuyên môn và tính năng động trong công việc mà bản thân con người và xã hội có thể huy động để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Phát triển nguồn lực con người Trong các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội bền vững thì nguồn lực con người ( nguồn nhân lực ) đóng vai trò quyết định. Nguồn nhân lực, đó chính là toàn bộ những người lao động đang có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội và các thế hệ những người lao động tiếp tục tham gia vào quá trình ấy. Phát triển nguồn lực con người là các hoạt động nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thởi bảo đảm sự phát triển của mỗi cá nhân.
Phát triển nguồn nhân lực là một bộ phận hợp thành quan trọng yếu trong chiến lược phát triển con người. Trong công cuộc phát triển con người, cần coi trọng 1.2 Khái niệm và các lý thuyết về vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững Trong thời đại ngày nay, khi đề cập đến sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của một quốc gia không thể không đề cập đến các mô hình phát triển kinh tế - xã hội bền vững của cộng đồng quốc tế.1 Khái niệm chung và những tiêu chí cơ bản về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững 1.1 Khái niệm về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững Phát triển kinh tế - xã hội bền vững là một khái niệm dùng để chỉ tính ổn định của trạng thái bên trong vốn có của quá trình tăng trưởng kinh tế, là tổng hợp các thuộc tính cơ bản hay đặc trưng tạo thành bản chất của tăng trưởng kinh tế trong một hoàn cảnh và một giai đoạn nhất định. Nó bao gồm các yếu tố như chất lượng của nguồn nhân lực lao động, trình độ kỹ thuật và công nghệ khai thác nguồn nhân lực sẵn có nhằm tạo nên năng suất lao động cao hơn và nền kinh tế phát triển đem lại phúc lợi xã hội cao hơn, môi trường được bảo vệ tốt hơn… Chất lượng tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế là hai mặt của một vấn đề, có quan hệ qua lại và thống nhất với nhau 1.2 Những tiêu chí cơ bản về sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững Tiêu chí về năng suất Tiêu chí về phúc lợi xã hội Tiêu chí về ổn định kinh tế và phát triển bền vững 1.2 Các lý thuyết về nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững Các nhà kinh tế học cổ điển AdamSmith ( 1723 – 1790 ) – nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh với tác phẩm nổi tiếng “Nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc của cải cách dân tộc” đã khẳng định: Lao động của con người là “Thước đo thực tế của giá trị”. David Ricardo ( 1772 – 1832 ), người đưa kinh tế chính trị cổ điển Anh lên đỉnh cao, chứng minh rằng: tăng trưởng kinh tế là kết quả của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc và chi phí sản xuất lương thực, chi phí này lại phụ thuộc vào đất đai.
Do đó, đất đai là giới hạn đối với tăng trưởng và ông đã xác định: Lao động của con người là nguồn gốc duy nhất của giá trị. Lý luận của Các Mác về lực lượng sản xuất gồm hai bộ phận: Lực lượng sản xuất vật chất và nguồn lực con người. Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, triết lý kinh doanh đã có một bước ngoặt từ quan niệm coi công nghệ là trung tâm sang coi con người là trung tâm, ưu tiên con người ở các khía cạnh tri thức, trình độ chuyên môn và động cơ lao động. Bước sang thế kỷ 21, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại càng tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội và tạo ra được những bước nhảy vọt.
Kinh tế tri thức hình thành và ngày càng đóng vai trò nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất xã hội 1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng CSVN lần thứ X năm 2006 đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm lớn từ thực tiễn tới đổi mới đất nước và để ra tư tưởng chỉ đạo về phát triển kinh tế - xã hội bền vững giai đoạn 2006 – 2010. Trong báo cáo chính trị đã chỉ ra: “Đẩy nhanh tiến độ tăng trưởng kinh tế đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả kinh tế và tính bền vững của sự phát triển”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII ( 6/1991 ) , Đảng CSVN đã đưa ra tư tưởng đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược kinh tế - xã hội, của sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội và khẳng định: “Nguồn nhân lực dồi dào, con người Việt Nam là nguồn nhân lực quan trọng nhất”. Rõ ràng, đường lối của Đảng và nhà nước Việt Nam đã tạo một bước ngoặt quan trọng trong xác định vị trí và vai trò của con người Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững.4 Kinh nghiệm phát huy nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững của một số nước và bài học rút ra cho Việt Nam 1.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản Đó là tư tưởng “Thoát Á” xuất hiện ngay từ thế kỷ XIX và được xem là kim chỉ nam cho chủ trương cải cách văn hóa Nhật Bản để phát triển kịp các nước phương Tây.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc Luôn khẳng định rằng bồi dưỡng và giáo dục nhân tài là vấn đề có tính chiến lược1.Xây dựng hiện đại hóa đòi hỏi phải bồi dưỡng hàng loạt nhân tài đủ tiêu chuẩn, trong đó có những nhân tài hàng đầu dạt chất lượng quốc tế.3 Kinh nghiệm của một số nước Đông Nam Á Singapore, Malaixia, Thái Lan 1.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam Đối với Nhật Bản, việc lựa chọn tài năng quản lí được coi là thế mạnh của quốc gia này, khi đội ngũ công chức của Nhật Bản luôn được đánh giá là có chất lượng cao.
Chính phủ đã tập trung đầu tư vào khoa học cơ bản và kích thích sáng tạo. Trung Quốc, công xưởng của thế giới đạt được những kì tích kinh tế trong những thập kỉ qua chủ yếu là nhờ áp dụng công nghệ cao, nhanh chóng làm chủ được công nghệ nước ngoài thông qua một nguồn nhân lực được đào tạo tốt. Chính phủ Trung Quốc luôn xem bồi dưỡng, giáo dục đào tạo và bồi dưỡng nhân tài và phát triển khoa học công nghệ là những chiến lược quốc gia quan trọng. Singapore, Malaysia, Thái Lan việc coi trọng vai trò chủ đạo của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội đã giúp các quốc gia này luôn đạt được mục tiêu đề ra trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Những bài học kinh nghiệm nêu trên là quý giá, thiết thực có thể gợi mở về các giải pháp đào tạo, sử dụng có hiệu quả, đầu tư hợp lí cho nguồn nhân lực con người nhằm phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020. CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 2.1 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới Sau nhiều nỗ lực thực hiện cải cách và hội nhập, bước chuyển mang tính bứt phá này dựa trên hai nội dung cốt yếu là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, và chuyển từ phát triển khép kín sang đẩy mạnh mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, đã đưa đến những thành công đáng khích lệ, làm thay đổi cả lượng và chất đời sống kinh tế - xã hội theo 3 nhóm tiêu chí sau: - Nhóm tiêu chí tăng trưởng kinh tế, nhóm tiêu chí chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhóm tiêu chí phát triển bền vững 2. Thực trạng nguồn lực con người của Việt Nam Lý thuyết và thực tiễn phát triển ở tất cả các nước trên thế giới đã cho thấy nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc dân. Thực trạng về thể chất, về trình độ văn hóa và kỹ thuật chuyên môn Về thể lực và sức khỏe theo đánh giá của các chuyên gia, thể lực và sức khỏe của người Việt Nam hiện nay chỉ dừng lại ở mức độ trung bình, theo bản thống kê về chỉ số phát triển con người HDI Việt Nam đứng thứ 112/177 nước trên thế giới.
Về trình độ văn hóa, kỹ thuật chuyên môn. Việt Nam là một trong số ít các quốc gia ở khu vực có tỷ lệ người lớn biết chữ và trẻ em trong độ tuổi đến trường khá cao: khoảng 94% dân số biết chữ. Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với mức bình quân của thế giới là 81,7%. Về số lượng.
Việt Nam hiện có một đội ngũ nhân lực tương đối dồi dào so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.