phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục nội dung luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực của ngành giáo dục tỉnh Kon Tum Chƣơng 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục Tỉnh Kon Tum. Luan van 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH GIÁO DỤC 1. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số á n ệm a.
Nhân lực Theo Từ điển Tiếng Việt: Nhân lực là sức của con ngƣời bao gồm: sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức đƣợc vận dụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực), những ham muốn, hoài bão của bản thân ngƣời lao động hƣớng tới một mục đích xác định (tâm lực). Nhân lực với ý nghĩa đầy đủ của nó bao gồm ba yếu tố: Thể lực, trí lực và tâm lực. Nhân lực theo nghĩa đen chỉ là sức ngƣời. Sức ngƣời bao hàm cả sức mạnh về vật chất và sức mạnh về tinh thần.
Không nên hiểu sức ngƣời ở mặt tài mà nó còn bao hàm ở cả mặt đức, đó là cái gốc của con ngƣời [1]. Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Tấn Thịnh (2013): Nhân lực đƣợc hiểu là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực của con ngƣời đƣợc vận dụng trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng đƣợc xem là sức lao động của con ngƣời – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố sản xuất của các tổ chức [20]. Trong đó: - Thể lực chỉ sức lực của cơ thể con ngƣời, giúp cho con ngƣời con thể làm đƣợc các công việc cần đến sức lao động và thể lực phụ thuộc vào sức khỏe, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, mức sống, chế độ y tế… của từng ngƣời.
- Trí lực chỉ năng lực trí tuệ của con ngƣời. Trí lực là khải năng phân tích và giải quyết vấn đề. Trí lực ảnh hƣởng đến khả năng tƣ duy, tiếp thu khoa học- công nghệ, năng lực sáng tạo trong công việc… Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012): Nhân lực là sức lực của mỗi con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt Luan van 10 động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của con ngƣời và đến một mức độ nà đó con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động [2].
Từ những khái niệm trên, ta có thể hiểu một cách khái quát rằng nhân lực là sức lực của con ngƣời, làm cho con ngƣời hoạt động và phát triển, sức lực đó ngày càng phát triển và khi đến một mức độ nào đó, con ngƣời sẽ tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh tế… b. Nguồn nhân lực Thuật ngữ “nguồn nhân lực” bắt đầu đƣợc sử dụng rộng rãi vào những năm 80 của thế kỷ XX ở các nƣớc có nền kinh tế phát triển nhằm thể hiện vai trò của yếu tố con ngƣời trong quá trình phát triển cũng khẳng định con ngƣời là một nguồn lực. Có rất nhiều những quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực, đó là : Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hoá đối với nguồn nhân lực đã đƣa ra định nghĩa nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dƣới dạng tiềm năng của con ngời. Quan niệm về nguồn nhân lực theo hƣớng tiếp cận này có phần thiên về chất lƣợng của nguồn nhân lực.
Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012) thì: “Nguồn nhân lực của một t chức bao gồm tất cả nh ng ngư i lao động làm việc trong t chức đ , c n nhân lực được hiểu là nguồn lực của m i con ngư i mà nguồn lực này gồm c thể lực và tr lực”[6]. Khái niệm này chỉ chú trọng đến sức mạnh tiềm ẩn của nguồn nhân lực trong một tổ chức khi họ phối hợp tốt với nhau, chỉ nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa các cá nhân với nhau. Theo Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2012) thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngư i c khả năng sáng t o ra của cải, vật chất và tinh th n cho hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định t i một th i Luan van 11 điểm nhất định”…[2]. Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến kết quả, chất lƣợng nhân lực.
Theo Phạm Minh Hạc (1996) thì “Nguồn nhân lực cần đƣợc hiểu là số dân và chất lƣợng con ngƣời, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của ngƣời lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng đƣợc chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phƣơng nào đó…”[7, tr. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau ở mỗi giác độ tiếp cận nhƣng khái quát nhất có thể hiểu nguồn nhân lực là nguồn lực của con ngƣời, là tổng thể số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con ngƣời và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Phát triển nguồn nhân lực Trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều quan điểm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực.
Phát triển nguồn nhân lực cũng có rất nhiều khía cạnh, góc độ để tiếp cận, tùy theo mục tiêu phát triển nguồn nhân nhân lực là gì mà chúng ta có nhiều cách hiểu khác nhau: Theo UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization – Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc) phát triển nguồn nhân lực là toàn bộ sự lành nghề của cƣ dân trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nƣớc. Theo ILO (International Labour Organization – Tổ chức Lao động quốc tế) phát triển nguồn nhân lực không chỉ là sự lành nghề của dân cƣ hoặc bao gồm cả vấn đề đào tạo nói chung mà còn là phát triển năng lực đó của con ngƣời để tiến tới có đƣợc việc làm hiệu quả, cũng nhƣ thỏa mãn nghề nghiệp Luan van 12 và cuộc sống cá nhân. Theo Bùi Văn Nhơn(2006):“Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển”[15]. Theo Trần Xuân Cầu (2012): “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con ngƣời, nền văn hóa; truyền thống lịch sử…”[2, tr104].
Có nhiều hơn nữa các định nghĩa khác nhau về phát triển nguồn nhân lực, tuy nhiên với phạm vi nghiên cứu đã đặt ra trong luận văn, tác giả chọn đi sâu nghiên cứu vấn đề theo cách tiếp cận truyền thống theo đó phát triển nguồn nhân lực đƣợc hiểu là quá trình phát triển các mặt số lƣợng, chất lƣợng, cơ cấu, phát triển trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức làm việc, tâm lý làm việc và sức khỏe nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực là các hình thức, phƣơng pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lƣợng của nguồn nhân lực, nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển của một địa phƣơng hay quốc gia. Đặ đ ểm nguồn n ân lự ngàn g áo ụ a. Là một bộ phận nguồn nhân lực có trình độ học vấn cao, hầu hết được đào tạo cơ bản, hệ thống về chuyên môn nghiệp vụ.
Mục tiêu tổng quát của Nghị quyết số 29-NQ/TW Ban chấp hành Trung ƣơng 8 khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ngày 4/11/2013: “Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, d y tốt, học tốt, quản lý tốt; c cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với ây dựng Luan van 13 hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hoá, hiện đ o hoá, dân chủ hoá, hội hoá và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục đào t o; gi v ng định hướng hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đ t trình độ tiên tiến trong khu vực”. Điều đó cho thấy nhà nƣớc quan tâm đến vấn đề nguồn nhân lực là đội ngũ giáo viên bậc phổ thông, luôn tuyển chọn và tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để xứng đáng là nguồn nhân lực có trình độ học vấn cao, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chung của đất nƣớc. Trình độ đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ của lực lƣợng lao động đƣợc quy định nhƣ sau: - Trình độ tối thiểu trung cấp sƣ phạm đối với giáo viên tiểu học.
- Trình độ tối thiểu cao đẳng sƣ phạm đối với giáo viên trung học cơ sở và một bộ phận giáo viên tiểu học. - Trình độ đại học đối với giáo viên trung học phổ thông và một bộ phận giáo viên trung học cơ sở, giáo viên tiểu học. - Trình độ sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) đối với một bộ phận giáo viên trung học phổ thông, giáo viên trung học cơ sở và giáo viên tiểu học. Nhìn chung, nguồn nhân lực giáo dục là đội ngũ giáo viên dạy bậc phổ thông có trình độ chuyên môn khá cao và chủ yếu đƣợc đào tạo theo hệ chính quy.
Chất lượng nguồn nhân lực giáo dục quyết định đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nói chung của đất nước. Con ngƣời trong bất cứ ngành nghề nào thì khả năng cũng phụ thuộc nhiều vào kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, học vấn nhận đƣợc trong quá trình học tập của mình. Giáo dục đều có ảnh hƣởng lớn đến các yếu tố về chất lƣợng nhân lực nói chung nhƣ yếu tố về thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức.