Luận Văn Thạc Sĩ Về Phát Triển Năng Lực Tư Duy Đối Thoại Cho Học Sinh Trung Học Phổ Thông

Luận văn thạc sĩ giáo dục phân tích vnu ued phát triển năng lực tư duy đối thoại cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học làm văn, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Chuyên ngành

Sư Phạm Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2016

127
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Khái niệm năng lực

1.2. Quan niệm về đối thoại

1.3. Đối thoại trong bài văn nghị luận

1.4. Cơ sở thực tiễn

1.5. Giới thiệu về nội dung làm văn được biên soạn trong SGK THPT hiện hành

1.6. Nội dung dạy học làm văn NLXH trong chương trình Ngữ văn THPT

1.7. Điều tra, khảo sát việc dạy và học nghị luận xã hội ở trường THPT

1.8. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY ĐỐI THOẠI CHO HỌC SINH

2.1. Những yêu cầu cần rèn luyện cho học sinh khi đối thoại

2.2. Biết phát hiện vấn đề đối thoại

2.3. Biết phân tích, nhìn nhận vấn đề từ nhiều khía cạnh, từ nhiều góc nhìn khác nhau khi tiến hành đối thoại

2.4. Biết xác định rõ chính kiến, quan điểm của mình khi tiến hành đối thoại

2.5. Biết xác định mục đích đối thoại

2.6. Biết sử dụng ngôn ngữ đối thoại

2.7. Một số biện pháp phát triển năng lực tư duy đối thoại cho học sinh

2.7.1. Biện pháp 1: Đặt câu hỏi để phân tích vấn đề, tìm hiểu hiện tượng

2.7.2. Biện pháp 2: Luyện tập xây dựng luận điểm, luận cứ nhằm đối thoại theo hướng khẳng định vấn đề

2.7.3. Biện pháp 3: Luyện tập xây dựng luận điểm, luận cứ nhằm đối thoại theo hướng bác bỏ vấn đề

2.7.4. Biện pháp 4: Luyện tập xây dựng luận điểm, luận cứ cho những vấn đề vừa có khía cạnh khẳng định, vừa có khía cạnh bác bỏ

2.8. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm

3.3. Đối tượng thực nghiệm và địa bàn thực nghiệm. Thời gian thực nghiệm

3.4. Nội dung thực nghiệm và cách thức tiến hành thực nghiệm

3.5. Nội dung thực nghiệm

3.6. Cách thức tiến hành

3.7. Cách đánh giá kết quả thực nghiệm

3.8. Giáo án thực nghiệm

3.8.1. Giáo án thực nghiệm 1

3.8.2. Giáo án thực nghiệm 2

3.9. Kết quả thực nghiệm

3.10. Phân tích định lượng

3.11. Phân tích định tính

3.12. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Năng Lực Tư Duy Đối Thoại

Phát triển năng lực tư duy đối thoại cho học sinh THPT trong dạy học văn nghị luận là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Năng lực này không chỉ giúp học sinh cải thiện kỹ năng giao tiếp mà còn nâng cao khả năng tư duy phản biện và sáng tạo. Đối thoại trong giáo dục không chỉ là việc trao đổi thông tin mà còn là quá trình hình thành và phát triển tư duy của học sinh.

1.1. Khái Niệm Năng Lực Tư Duy Đối Thoại

Năng lực tư duy đối thoại được hiểu là khả năng tham gia vào các cuộc đối thoại một cách hiệu quả, bao gồm việc lắng nghe, phân tích và phản biện ý kiến của người khác. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc dạy học văn nghị luận, nơi mà học sinh cần phải thể hiện quan điểm cá nhân một cách rõ ràng và thuyết phục.

1.2. Vai Trò Của Đối Thoại Trong Giáo Dục

Đối thoại trong giáo dục không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp mà còn khuyến khích sự sáng tạo và tư duy phản biện. Qua các hoạt động đối thoại, học sinh có cơ hội để thể hiện quan điểm cá nhân, đồng thời học hỏi từ những ý kiến khác, từ đó hình thành tư duy độc lập và tự tin.

II. Thách Thức Trong Việc Phát Triển Năng Lực Tư Duy Đối Thoại

Mặc dù việc phát triển năng lực tư duy đối thoại cho học sinh THPT là cần thiết, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong quá trình thực hiện. Những thách thức này có thể đến từ cả phía giáo viên và học sinh.

2.1. Thiếu Kỹ Năng Giao Tiếp Của Học Sinh

Nhiều học sinh hiện nay chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng giao tiếp cần thiết để tham gia vào các cuộc đối thoại hiệu quả. Điều này dẫn đến việc các em gặp khó khăn trong việc diễn đạt ý kiến và phản biện.

2.2. Phương Pháp Dạy Học Chưa Đáp Ứng

Phương pháp dạy học truyền thống thường tập trung vào việc truyền đạt kiến thức một chiều, thiếu sự tương tác và đối thoại. Điều này làm giảm tính tích cực và chủ động của học sinh trong quá trình học tập.

III. Phương Pháp Phát Triển Năng Lực Tư Duy Đối Thoại

Để phát triển năng lực tư duy đối thoại cho học sinh, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực và sáng tạo. Những phương pháp này không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức mà còn khuyến khích sự tham gia và tương tác.

3.1. Sử Dụng Các Hoạt Động Nhóm

Hoạt động nhóm là một phương pháp hiệu quả để khuyến khích học sinh tham gia vào các cuộc đối thoại. Qua việc thảo luận nhóm, học sinh có thể chia sẻ ý kiến, lắng nghe và phản biện lẫn nhau, từ đó phát triển kỹ năng tư duy đối thoại.

3.2. Đặt Câu Hỏi Khuyến Khích Phân Tích

Giáo viên có thể sử dụng các câu hỏi mở để khuyến khích học sinh phân tích và thảo luận về các vấn đề trong văn nghị luận. Điều này không chỉ giúp học sinh phát triển tư duy phản biện mà còn tạo cơ hội cho các em thể hiện quan điểm cá nhân.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Trong Dạy Học Văn Nghị Luận

Việc phát triển năng lực tư duy đối thoại cho học sinh không chỉ là lý thuyết mà còn cần được áp dụng thực tiễn trong quá trình dạy học. Các giáo viên cần thiết kế các bài học và hoạt động phù hợp để tạo điều kiện cho học sinh thực hành.

4.1. Thiết Kế Bài Học Tích Cực

Các bài học nên được thiết kế theo hướng tích cực, khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động đối thoại. Việc sử dụng các tình huống thực tế trong bài học sẽ giúp học sinh dễ dàng liên hệ và áp dụng kiến thức vào thực tiễn.

4.2. Đánh Giá Kết Quả Học Tập

Đánh giá kết quả học tập không chỉ dựa trên điểm số mà còn cần xem xét khả năng tham gia vào các cuộc đối thoại của học sinh. Việc đánh giá này sẽ giúp giáo viên nhận biết được mức độ phát triển năng lực tư duy đối thoại của học sinh.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Năng Lực Tư Duy Đối Thoại

Phát triển năng lực tư duy đối thoại cho học sinh THPT trong dạy học văn nghị luận là một quá trình liên tục và cần sự nỗ lực từ cả giáo viên và học sinh. Tương lai của năng lực này sẽ phụ thuộc vào việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại và tích cực.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Năng Lực Tư Duy Đối Thoại

Năng lực tư duy đối thoại không chỉ giúp học sinh trong học tập mà còn là kỹ năng sống cần thiết trong xã hội hiện đại. Việc phát triển năng lực này sẽ giúp học sinh tự tin hơn trong giao tiếp và giải quyết vấn đề.

5.2. Định Hướng Phát Triển Trong Tương Lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các phương pháp dạy học mới nhằm phát triển năng lực tư duy đối thoại cho học sinh. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng yêu cầu của xã hội.

19/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm năng lực Vấn đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực (định hướng kết quả đầu ra) đã được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỉ XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Xung quanh khái niệm năng lực, có rất nhiều định nghĩa và nó thực sự thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Theo cách hiểu thông thường, năng lực (competency – có nguồn gốc tiếng Latinh competetia) là sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc.

Theo John Erpenbeck (1998), “năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa qua ý chí” (Dẫn theo [42; tr. Weinert (2001) định nghĩa: “năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” (Dẫn theo [5; tr. Còn Quesbec trong Ministere de l’Education (2004) thì cho rằng: năng lực là “khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và sự đam mê để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” (Dẫn theo [14; tr. Các ý kiến trên đều nhấn mạnh: năng lực là khả năng giải quyết những nhiệm vụ trong cuộc sống cũng như công việc, học tập hàng ngày của con người, trong đó đòi hỏi phải có sự kết hợp của các thành tố phức hợp về tư duy, cảm xúc, thái độ, kĩ năng.

Có thể nói, năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. Khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động, khả năng thực hiện, là phải biết – làm (know-how) chứ không chỉ biết và hiểu (know-what). 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam, khái niệm năng lực cũng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như công luận khi giáo dục nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện, chuyển từ giáo dục định hướng nội dung sang giáo dục định hướng năng lực. Khái niệm này cũng được định nghĩa khá tương đồng với các định nghĩa mà các nhà nghiên cứu trên thế giới đưa ra.

Theo Từ điển Tiếng Việt, năng lực là “phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [28; tr. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Năng lực là đặc điểm cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn – một hoặc một số dạng hoạt động nào đó” [13; tr. Các nhà tâm lí học cho rằng, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Họ chia năng lực thành năng lực chung, cốt lõi và năng lực chuyên môn; trong đó, năng lực chung, cốt lõi là năng lực cơ bản cần thiết làm nền tảng để phát triển năng lực chuyên môn.

Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng ở những lĩnh vực nhất định, ví dụ như năng lực toán học, năng lực ngôn ngữ (Dẫn theo [38; tr. Tương tự, các chuyên gia giáo dục học quan niệm: “năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [5; tr. Tại đó, các tác giả đã xác định các thành phần và cấu trúc của năng lực, đó là sự kết hợp của bốn năng lực thành phần: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể. Mô hình bốn thành phần năng lực này phù hợp với bốn mục tiêu giáo dục do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đề xuất, đó là: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định.

Như vậy, dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về năng lực nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều đảm bảo nội hàm của khái niệm này là: sự kết 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả. Quan niệm về đối thoại Theo từ điển tiếng Việt, đối thoại là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau. Còn một nghĩa khác, đối thoại là để bàn bạc, thương lượng trực tiếp với nhau giữa hai hay nhiều bên để giải quyết các vấn đề tranh chấp. Như vậy, đối thoại diễn ra do nhu cầu con người cần trao đổi thông tin với nhau để bàn bạc về một vấn đề gì đó nhằm mục đích hai bên hiểu nhau hơn và từ đó dẫn đến thực hiện hành động theo mong muốn.

Đối thoại không chỉ đơn thuần nhằm mục đích thông tin mà chủ yếu là quá trình tác động đến người nhận về quan điểm, tình cảm và hành động. Trong mối quan hệ giữa thông tin và tác động, thì thông tin là phương tiện còn tác động là mục đích. Không có lời nói nào chỉ nhằm mục đích thông tin thuần túy mà thường là qua thông tin, người nói nhằm một mục đích tác động nhất định. Chính mục đích tác động này đòi hỏi sự tư duy của các chủ thể tham gia vào cuộc đối thoại.

Như vậy, đối thoại là sự trao đổi kết quả tư duy của mình đối với người khác. Cho nên không có kết quả của tư duy thì không có đối thoại, không có giao tiếp. Ngược lại, đối thoại còn là cơ sở của phương pháp tư duy, phương pháp nhận thức. Tư duy theo nguyên tắc đối thoại là một hướng tư duy nhằm phát triển nội dung tri thức cần tiếp nhận.

Trong dạy học tác phẩm văn chương, thông qua ngôn ngữ, giáo viên hướng học sinh tiếp nhận tác phẩm bằng việc tổ chức các cuộc đối thoại giữa học sinh với thế giới nghệ thuật trong tác phẩm, với các nhân vật, các sự kiện, tình tiết trong tác phẩm với tác giả để từ đó học sinh có thể khám phá tác phẩm, hiểu nội dung tác phẩm một cách cặn kẽ. Từ những hiểu biết trên, sau đây chúng tôi xin cung cấp một số quan điểm mới về đối thoại. Đối thoại là một hoạt động giao tiếp bằng lời Trước hết, ta hiểu đối thoại là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhiều mục đích khác nhau, trong những ngữ cảnh khác nhau. Trong bất cứ cuộc đối thoại nào cũng gồm ba vận động chủ yếu: sự trao lời, sự trao đáp và trong cuộc đối thoại đó, các nhân vật đối thoại ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại với nhau, làm biến đổi lẫn nhau.

Với cách hiểu này, trong dạy học, những giờ 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dạy chỉ có tiếng nói của thầy giáo giảng bài, truyền đạt thông tin, thuyết giảng, không có tiếng nói của học sinh mà học sinh chỉ có nhiệm vụ lắng nghe và ghi chép. Giờ dạy như vậy sẽ rất nhàm chán và chỉ gọi là giờ độc thoại nội tâm của người thầy. Cách dạy này làm sao truyền lửa cho học sinh và gợi hứng thú yêu thích bộ môn ở các em được. Đây chính là phần lỗi của giáo viên, có thể là thiếu kinh nghiệm, thiếu phương pháp, thiếu tâm huyết và quan trọng là thiếu nhiệt tình, thiếu đam mê với nghề nghiệp.

Điều này khiến cho học sinh một phần quay lưng lại với bộ môn Ngữ văn như hiện nay. Ngược lại, trong giờ học có sự đan xen giữa lời nói của thầy giáo và học sinh thì đó là dạy học đối thoại. Thầy giáo sử dụng các phương pháp gợi mở, đặt câu hỏi, nêu vấn đề…, tổ chức cho học sinh tích cực tham gia phát biểu ý kiến, trả lời câu hỏi, trực tiếp trình bày những quan điểm, những hiểu biết của mình về nội dung bài học dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Dạy học theo kiểu đối thoại như thế, vai trò chủ thể của học sinh trong giờ học được phát huy.

Người thầy ở đây không phải là nguồn kiến thức duy nhất, không phải là máy phát tin và học sinh cũng không phải là bình chứa để giáo viên rót thông tin mà là những ngọn lửa, những người truyền lửa đam mê cho các em. Quan điểm đối thoại ở trên chỉ mới dựa trên tiêu chí hình thức với những quan hệ đối thoại có thể có trong giờ văn như đối thoại giữa thầy – trò, đối thoại trò – trò, đối thoại trò – nhóm trò hay giữa tập thể lớp. Tuy nhiên chúng ta không chỉ dừng lại ở tiêu chí hình thức mà còn chú ý đến cả trong tư duy, trong tư tưởng. Đối thoại là giao tiếp trong tư duy, trong tư tưởng Các chi tiết, tình tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn học đều là những tín hiệu có thể đem đến cho người tiếp nhận những thông tin phong phú.

Mỗi thông tin tương đương với một phát ngôn. Nó cũng có chủ thể của nó, cũng ghi dấu ấn riêng. Vì vậy, trước mỗi đối tượng nhận thức, con người có thể nghe thấy nhiều tiếng nói khác nhau về nó. Đây chính là tính đối thoại trong tiếp nhận thông tin.

Có khả năng nghe được nhiều thông tin từ đối tượng tiếp nhận thì nhận thức mới có chiều sâu. Cơ chế nhận thức khi đó sẽ diễn ra hai chiều trong tư duy, mà bản chất hai chiều trong đối thoại: đối thoại trong cái tôi và đối thoại giữa cái tôi với 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người khác. Đối thoại trong cái “tôi” là cách nhận thức có chiều sâu, nhận thức đa chiều. Nghĩa là người nhận thức luôn đặt ra câu hỏi: Tại sao như thế? Điều đó có nghĩa là gì?.Đó là cách tạo đối thoại ngầm trong tư duy của người tiếp nhận, để việc tiếp nhận, lĩnh hội không đơn giản, bằng phẳng.

Đối thoại giữa cái “tôi” với người khác là đối thoại giữa những luồng nhận thức, tư tưởng tình cảm, quan điểm, chỗ đứng, điểm nhìn của các chủ thể khác nhau về một vấn đề.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Phát Triển Năng Lực Tư Duy Đối Thoại Cho Học Sinh THPT Trong Dạy Học Văn Nghị Luận" tập trung vào việc nâng cao khả năng tư duy phản biện và đối thoại của học sinh trong quá trình học tập môn văn nghị luận. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về nội dung học mà còn trang bị cho các em khả năng giao tiếp và lập luận hiệu quả trong cuộc sống.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm các phương pháp giảng dạy sáng tạo và các hoạt động thực tiễn nhằm khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập. Điều này không chỉ giúp cải thiện kết quả học tập mà còn phát triển nhân cách và kỹ năng sống cho học sinh.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của giáo dục và quản lý học tập, hãy khám phá thêm tài liệu "Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn hóa học tại các trường thcs trên địa bàn quận cẩm lệ thành phố đà nẵng", nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý giáo dục. Bạn cũng có thể tham khảo tài liệu "Quản lý hoạt động dạy học môn sinh học theo tiếp cận phát triển năng lực học sinh ở các trường thpt huyện phước sơn tỉnh quảng nam" để hiểu thêm về cách tiếp cận phát triển năng lực học sinh trong môn học khác. Cuối cùng, tài liệu "Luận văn thạc sĩ quản lý chất lượng đào tạo ở trường trung cấp nghề tỉnh cà mau" cũng sẽ mang đến cho bạn những thông tin bổ ích về quản lý chất lượng trong giáo dục. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực giáo dục.