phần mở đầu, phần nội dung (03 chương, 08 tiết), kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nghề Nghề, theo quan niệm ở mỗi quốc gia không có sự giống nhau nhất định.
Cho đến nay, khái niệm nghề vẫn được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau: Tại Cộng hòa liên bang Đức, nghề được hiểu: “Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó”. Ở Liên bang Nga, nghề: “Là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn”. Khái niệm nghề ở Pháp: “Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống”. Đối với Vương quốc Anh, nghề được xem: “Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học học nghệ thuật”.
Ở nước ta, theo Từ điển Việt Nam (2002), Nxb. Viện ngôn ngữ học, Hà Nội: “Nghề là công việc chuyên, làm theo sự phân công lao động xã hội”. Chúng tôi cho rằng, Nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, rất phổ biến, gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học - công nghệ và văn minh nhân loại. Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, song chúng ta có thể thấy nghề có một số nét đặc trưng nhất định: Một là, nghề là hoạt động, là công việc về lao động của con người và nó được lặp đi lặp lại.
Hai là, nghề có sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội. Ba là, nghề là phương tiện để con người mưu sinh. Bốn là, nghề là lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt, có thái độ cụ thể đối với nghề. Luan van 13 Năm là, nghề có giá trị trao đổi trong xã hội và đòi hỏi phải có một quá trình học nhất định.
Hiện nay, xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của khoa học, công nghệ nói chung và chiến lược phát triển KT-XH của mỗi quốc gia nói riêng. Vì vậy, khái niệm Nghề luôn biến đổi và gắn chặt với xu hướng phát triển KT-XH của từng quốc gia và sự phát triển khoa học, công nghệ của nhân loại. Khái niệm đào tạo nghề Trong đề tài này, thuật ngữ “Đào tạo nghề” được hiểu là đồng nhất với thuật ngữ “Dạy nghề”. ĐTN hiện nay đang tồn tại nhiều khái niệm chưa hoàn toàn thống nhất với nhau: Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), định nghĩa: “Dạy nghề là cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc nghề nghiệp được giao”.
Theo Luật Dạy nghề (2006): “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc từ tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” [ 22, tr. Theo chúng tôi, ĐTN là hoạt động đào tạo và hình thành năng lực nghề từ kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để làm được việc trong doanh nghiệp hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học. Đây là công việc kết nối mục tiêu đào tạo, thiết kế, thực hiện chương trình đào tạo; các vấn đề liên quan đến giảng dạy, giám sát, kiểm tra, đánh giá nhằm thực hiện mục tiêu là người học nghề làm được việc hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học. ĐTN là một lĩnh vực bao gồm tất cả các hoạt động của nhà trường nhằm cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng và giáo dục HS.
HS được cung Luan van 14 cấp kiến thức và cơ sở khoa học về vật liệu, dụng cụ, thiết bị, quy trình công nghệ, biện pháp tổ chức quản lý sản xuất để có thể thích ứng với sự thay đổi cơ cấu lao động. HS có kỹ năng nghề nghiệp như kỹ năng sử dụng công cụ, gia công vật liệu, các thao tác kỹ thuật, lập kế hoạch tính toán, thiết kế và khả năng vận dụng vào thực tiễn. Đó là những cơ sở ban đầu để HS hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát huy tính sáng tạo, tính kỷ luật và tác phong công nghiệp. ĐTN là khâu quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhưng lại là yếu tố cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc.
ĐTN giúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để từ đó họ có thể làm việc được trong các cơ quan, doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, dịch vụ hoặc có thể tự tạo ra việc làm. ĐTN bao gồm hai hoạt động có quan hệ hữu cơ với nhau: Một là, hoạt động dạy nghề. Đây là quá trình GV truyền đạt những kiến thức về lý thuyết, kỹ năng thực hành và giáo dục thái độ nghề nghiệp cho HS. Hai là, hoạt động học nghề.
Đây là quá trình HS tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và rèn luyện kỹ năng thực hành để đạt được một trình độ kiến thức, kỹ năng và một thái độ tốt đối với nghề nghiệp của cá nhân. Chương trình ĐTN có ba cấp trình độ là CĐN, TCN và SCN được thực hiện bởi hai hình thức ĐTN chính quy và ĐTN thường xuyên. Ngoài ra, hình thức ĐTN thường xuyên còn bao gồm các chương trình bồi dưỡng, nâng cao, cập nhật kiến thức và kỹ năng nghề; chương trình ĐTN theo hình thức kèm cặp nghề, truyền nghề và chuyển giao công nghệ [22]. Hệ thống tổ chức ĐTN rất đa dạng gồm các cơ sở ĐTN công lập, cơ sở ĐTN tư thục và cơ sở ĐTN có vốn đầu tư nước ngoài.
Hiện nay, ĐTN mang tính tích hợp giữa kiến thức và kỹ năng. Sự tích hợp này thể hiện ở chỗ nó đòi hỏi HS nghề phải vừa chuyên sâu về lý thuyết, Luan van 15 vừa phải thành thục về kỹ năng thự hành. Đây là điểm khác biệt lớn trong dạy nghề và dạy học văn hoá. Khái niệm quản lý đào tạo nghề Hệ thống giáo dục quốc dân trong đó có ĐTN là một hệ thống xã hội.
Quản lý ĐTN chịu sự chi phối của các quy luật xã hội và tác động của quản lý xã hội. Quản lý ĐTN được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng quản lý trong lĩnh vực hoạt động ĐTN. Quản lý ĐTN là hoạt động điều hành, phối hợp với các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh hoạt động ĐTN theo yêu cầu phát triển xã hội [26]. Như vậy, Quản lý ĐTN là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống ĐTN, là sự điều hành hệ thống và các cơ sở ĐTN nhằm góp phần thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Quản lý ĐTN có những đặc trưng chủ yếu sau: Thứ nhất, quản lý ĐTN phải chú ý đến sự khác biệt giữa đặc điểm lao động sư phạm so với đặc điểm lao động xã hội nói chung. Thứ hai, sản phẩm ĐTN có tính đặc thù đó là kiến thức, kỹ năng và thái độ của con người nên quản lý ĐTN cần phải tránh dập khuôn, máy móc khi tạo ra sản phẩm cũng như không được phép tạo ra phế phẩm. Thứ ba, trong quản lý ĐTN, các hoạt động quản lý hành chính Nhà nước và quản lý chuyên môn đan xen nhau, thâm nhập lẫn nhau không thể tách rời, tạo thành hoạt động thống nhất. Quản lý ĐTN đòi hỏi yêu cầu cao về tính toàn diện, tính thống nhất, tính liên tục, tính kế thừa và tính phát triển.
Dựa vào phạm vi có thể chia quản lý ĐTN thành hai loại hình quản lý: Một là, quản lý hệ thống ĐTN, đây là quản lý diễn ra ở tầm vĩ mô, trong phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương và các ngành (còn được hiểu là quản lý nhà nước về ĐTN). Luan van 16 Hai là, quản lý cơ sở ĐTN, đây là quản lý ở tầm vi mô, trong phạm vi một cơ sở ĐTN (trường CĐN, trường TCN, Trung tâm dạy nghề hoặc các cơ sở ĐTN khác được thành lập theo quy định của Nhà nước). Khái niệm chất lượng Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì cuộc cách mạng về chất lượng được xem là trung tâm, bởi chất lượng đóng vai trò là vũ khí cạnh tranh quan trọng nhất. Có rất nhiều khái niệm và cách lý giải khác nhau về chất lượng: Theo Từ điển Tiếng việt thông dụng (1998), Nxb.
Giáo dục: “Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia”. Theo Oxford Poket Dictationary: “Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản”. Theo Tiêu chuẩn TCVN-ISO 8402: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn”. Tuy nhiên, nhiều người có cùng ý kiến: “Chất lượng là sự xuất chúng, là tuyệt hảo, là giá trị vật chất, là sự biến đổi về chất, là sự phù hợp với mục tiêu đề ra và là sự đáp ứng nhu cầu.
Như vậy, chất lượng là khái niệm trừu tượng, phức tạp và đa chiều, có ý nghĩa đối với những người hưởng lợi tùy thuộc vào quan niệm của họ tại một thời điểm nhất định và đáp ứng các mục tiêu trong cùng thời gian đó. Chúng tôi cho rằng, Chất lượng là sự phản ánh bản chất của sự vật và dùng để so sánh sự vật này với sự vật khác. Nó được đánh giá qua mức độ trùng khớp và đáp ứng với mục tiêu đề ra. Theo quan niệm này, ở lĩnh vực GD-ĐT nói chung, các cơ sở đào tạo sẽ được phép hoạt động để đạt được những mục tiêu đề ra trong sứ mạng của mình.
Điều này sẽ làm đa dạng hóa các loại hình tổ chức GD-ĐT, nhằm thỏa mãn nhiều hơn nữa nhu cầu học tập suốt đời của mọi thành phần trong xã hội.