Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài được xây dựng trong bối cảnh nền giáo dục Việt Nam đang thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, chuyển từ mô hình giáo dục "truyền thụ một chiều" sang định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã xác định rõ hệ thống năng lực chung và năng lực chuyên biệt cho từng bộ môn, trong đó môn Lịch sử đòi hỏi hình thành ba năng lực cốt lõi: tìm hiểu lịch sử; nhận thức và tư duy lịch sử; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.

Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy học ở trường trung học phổ thông (THPT), môn Lịch sử vẫn chịu tình trạng học sinh thờ ơ, coi là môn phụ và học theo phương thức đối phó. Nhiều giáo viên vẫn phụ thuộc vào sách giáo khoa, việc đặt câu hỏi trên lớp thường mang tính hình thức, "cho có", chỉ dừng lại ở mức độ yêu cầu học sinh nhắc lại nguyên văn nội dung trong sách mà chưa kích thích được tư duy khám phá hoặc khai thác tư liệu lịch sử. Giai đoạn Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX trong chương trình lớp 10 chuẩn là thời kì chứa đựng nhiều biến cố quan trọng của các triều đại phong kiến, hệ thống khái niệm phức tạp và nguồn tư liệu lịch sử phong phú, đòi hỏi phải có phương pháp sư phạm thích hợp để học sinh tự chiếm lĩnh tri thức.

Mục đích nghiên cứu của đề tài gồm 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Đề xuất một số biện pháp sử dụng câu hỏi trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 (chương trình chuẩn) nhằm phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT.
  2. Xây dựng hệ thống câu hỏi vận dụng vào dạy học phần học này nhằm phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử cho học sinh.
  3. Xây dựng hệ thống câu hỏi vận dụng vào dạy học phần học này nhằm phát triển năng lực tái hiện và trình bày lịch sử cho học sinh.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định theo 6 nội dung:

  1. Tìm hiểu lý luận về câu hỏi trong dạy học và năng lực tìm hiểu lịch sử của học sinh ở trường THPT.
  2. Điều tra thực trạng của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học Lịch sử lớp 10 ở trường THPT.
  3. Xác định nguyên tắc sử dụng câu hỏi trong dạy học Lịch sử ở trường THPT.
  4. Xây dựng quy trình sử dụng câu hỏi trong dạy học Lịch sử để phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT.
  5. Đề xuất một số biện pháp sử dụng câu hỏi trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằm phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT.
  6. Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả của các biện pháp đã đưa ra.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Việc sử dụng câu hỏi trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằm phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT.
  • Phạm vi nghiên cứu: Nội dung dạy học tập trung vào phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX trong sách giáo khoa Lịch sử 10 (chương trình chuẩn), bao gồm Chương II, Chương III và Chương IV của Phần hai. Về mặt không gian khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm, đề tài thực hiện tại các trường: THPT Tiên Du số 1 (tỉnh Bắc Ninh), THPT Hàn Thuyên (tỉnh Bắc Ninh) và THPT Xuân Áng (tỉnh Phú Thọ).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở pháp lý và lý luận xuất phát của nghiên cứu là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, cùng Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018. Bên cạnh đó, tác giả kế thừa các công trình lý luận dạy học của các tác giả trong và ngoài nước như: B. Exipop (1971), N. Miacolep (1973), N. Dari (1973), Vagin (1978), Petrovsiki (1982), I. Lecne (1997), Piaget, Nguyễn Đình Chỉnh (1995), Trần Thị Tuyết Oanh (2005), Nguyễn Thị Côi (2006), Thái Duy Tuyên (2010), Phan Ngọc Liên (2012), Nguyễn Thị Duyên (2001), Mã Thị Xuân Thu (2012).

Khung khái niệm và lý thuyết trọng tâm được sử dụng trong khóa luận gồm:

  • Khái niệm năng lực: Được tiếp cận theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện; chia thành năng lực chung (năng lực công cụ, năng lực xã hội, năng lực làm chủ bản thân) và năng lực chuyên biệt môn học.
  • Năng lực chuyên biệt môn Lịch sử: Gồm năng lực tìm hiểu lịch sử; năng lực nhận thức và tư duy lịch sử; năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học. Trong đó, năng lực tìm hiểu lịch sử là nền tảng, phản ánh khả năng nhận diện, khai thác, sử dụng tư liệu lịch sử và tái hiện lịch sử qua ngôn ngữ nói hoặc viết.
  • Bản chất và phân loại câu hỏi dạy học: Phân chia theo mức độ nhận thức (câu hỏi nhận biết, câu hỏi thông hiểu, câu hỏi vận dụng); phân chia theo chức năng hoạt động nhận thức (câu hỏi tái hiện, câu hỏi phát hiện/tìm kiếm, câu hỏi phát triển); phân chia theo thời điểm sư phạm (câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi gợi mở, câu hỏi củng cố/kiểm tra).
  • Đặc trưng kiến thức lịch sử: Tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống (logic), và tính thống nhất giữa "sử" và "luận".
  • Đặc điểm tâm lí và nhận thức của học sinh lớp 10 (16-18 tuổi): Thuộc giai đoạn đầu thanh niên; tư duy trừu tượng, tư duy hình thức và tư duy logic phát triển; nhận thức mang tính gián tiếp, tính được hướng dẫn và tính giáo dục.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai đồng bộ:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp sách báo, tạp chí khoa học, giáo trình phương pháp dạy học lịch sử, tâm lý học và phân tích chương trình, sách giáo khoa Lịch sử 10 hiện hành.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát sư phạm, dự giờ tiết dạy, trao đổi chuyên môn với giáo viên và học sinh; điều tra xã hội học bằng bảng hỏi. Tác giả đã phát ra 120 phiếu khảo sát và thu về 120 phiếu hợp lệ (10 giáo viên tại 3 trường THPT: Tiên Du số 1, Hàn Thuyên, Xuân Áng; học sinh các lớp 10A2, 10A3 THPT Tiên Du số 1 và lớp 10H, 10G THPT Xuân Áng).
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm có đối chứng tại trường THPT Tiên Du số 1 nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của hệ thống câu hỏi đã xây dựng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn việc sử dụng câu hỏi trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằm phát huy năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT

Chương 1 tập trung làm rõ hai trụ cột lý luận và thực tiễn của đề tài:

Về mặt lý luận, tác giả phân tích sâu sắc các đặc trưng nhận thức bộ môn lịch sử. Vì lịch sử mang tính quá khứ và không thể dựng lại trực tiếp trong phòng thí nghiệm, học sinh chỉ có thể tiếp cận quá khứ thông qua các nguồn sử liệu. Do đó, việc xây dựng hệ thống câu hỏi có mục đích sư phạm rõ ràng chính là phương tiện định hướng học sinh giải mã tài liệu, tái hiện biểu tượng lịch sử chân thực và rút ra bản chất sự kiện. Khóa luận phân định rõ vai trò của câu hỏi đối với giáo viên (công cụ đo lường, chẩn đoán lỗ hổng kiến thức, tăng cường tương tác sư phạm) và đối với học sinh (kích thích tò mò khoa học, rèn luyện tư duy tự học). Xét trên các bình diện giáo dục, việc sử dụng câu hỏi đóng góp trực tiếp vào việc củng cố kiến thức ở 3 mức độ (biết, hiểu, vận dụng), rèn luyện kĩ năng diễn đạt, xây dựng phẩm chất kiên trì và hình thành năng lực tự đánh giá.

Về mặt thực tiễn, chương này công bố kết quả điều tra từ 120 phiếu khảo sát giáo viên và học sinh tại 3 trường THPT. Kết quả điều tra thực trạng cho thấy nhiều mâu thuẫn tồn tại trong quá trình dạy học:

  • Về phía học sinh: Phần lớn học sinh gặp khó khăn do phải ghi nhớ quá nhiều sự kiện, mốc thời gian và do phương pháp giảng dạy còn khô khan. Mặc dù giáo viên có đặt câu hỏi trong giờ dạy nhưng phần nhiều là câu hỏi đơn điệu, tái hiện máy móc, khiến học sinh chưa hào hứng. Học sinh bày tỏ nguyện vọng được tiếp cận các câu hỏi ngắn gọn, rõ nghĩa, phù hợp với năng lực nhận thức và có hình thức gợi mở, bắt mắt.
  • Về phía giáo viên: Giáo viên đều ý thức được vai trò của câu hỏi trong kiểm tra, đánh giá và kích thích hứng thú, nhưng do áp lực phân phối thời lượng ngắn trong khi dung lượng kiến thức sách giáo khoa dài nên thường có xu hướng truyền thụ một chiều để kịp tiến độ chương trình, ít thời gian tổ chức cho học sinh làm việc với câu hỏi phát triển năng lực.

Bảng tổng hợp nhận thức của giáo viên về ý nghĩa của việc phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ghi nhận trong khảo sát:

Nội dung nhận thức của giáo viên Tỉ lệ lựa chọn (%)
Giúp học sinh nắm vững, hiểu sâu, mở rộng vốn kiến thức lịch sử 4%
Giúp học sinh phát triển khả năng tự học, khả năng sử dụng và khai thác tư liệu 5%
Rèn luyện kĩ năng trình bày, thuyết trình các vấn đề lịch sử bằng lời nói hoặc viết 5%
Tất cả các phương án trên 86%

Kết quả này khẳng định đại đa số giáo viên (86%) đã có nhận thức toàn diện về cấu trúc của năng lực tìm hiểu lịch sử, tạo tiền đề thuận lợi cho việc áp dụng các biện pháp đổi mới.

Chương 2: Biện pháp sử dụng câu hỏi trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 nhằm phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho học sinh ở trường THPT

Chương 2 trình bày cấu trúc giải pháp sư phạm của tác giả, bao quát từ mục tiêu chương trình đến nguyên tắc, quy trình và hệ thống câu hỏi cụ thể:

Vị trí, mục tiêu, nội dung chương trình: Phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX thuộc Phần hai của sách giáo khoa Lịch sử 10 chuẩn, gồm: Chương II (thế kỉ X đến thế kỉ XV - giai đoạn xác lập và củng cố nhà nước phong kiến độc lập qua các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê sơ; các cuộc kháng chiến chống Tống, Mông - Nguyên, Minh; phát triển văn hóa, luật pháp); Chương III (thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII - biến đổi nhà nước phong kiến, chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài, phong trào nông dân Tây Sơn, kinh tế và văn hóa); Chương IV (nửa đầu thế kỉ XIX - tình hình chính trị, kinh tế, xã hội dưới triều Nguyễn).

Hệ thống 4 nguyên tắc sử dụng câu hỏi:

  1. Đảm bảo nội dung bài học lịch sử: Câu hỏi phải bám sát kiến thức cốt lõi của chương trình, tập trung vào mạch kiến thức xương sống nhưng đồng thời có tính định hướng mở rộng, nâng cao.
  2. Đảm bảo tính vừa sức: Nội dung câu hỏi phải tương thích với đặc điểm tâm sinh lý và trình độ nhận thức của học sinh lớp 10, phân hóa được nhiều đối tượng nhận thức trong lớp, tránh câu hỏi quá dễ gây nhàm chán hoặc quá khó gây ức chế tư duy.
  3. Đảm bảo tính đa dạng trong thiết kế: Kết hợp linh hoạt nhiều loại hình câu hỏi (tái hiện, giải thích, so sánh, đánh giá, câu hỏi liên môn với văn học, địa lý), tích hợp việc khai thác các loại hình tài liệu lịch sử khác nhau.
  4. Đảm bảo tính hệ thống: Các câu hỏi phải được thiết kế thành chuỗi logic chặt chẽ, tạo thành các bậc thang nhận thức liên kết kiến thức cũ với kiến thức mới.

Quy trình 5 bước tổ chức sử dụng câu hỏi:

  • Bước 1: Xác định mục tiêu bài dạy (định vị chuẩn kiến thức, kĩ năng và mức độ nhận thức cần đạt).
  • Bước 2: Lựa chọn nội dung đặt câu hỏi (xác định trọng tâm kiến thức và mối liên hệ thực tiễn).
  • Bước 3: Xây dựng hệ thống câu hỏi và đáp án (chuẩn bị dự kiến các hướng trả lời và các phương án xử lý tình huống).
  • Bước 4: Tiến hành sử dụng câu hỏi trên lớp (tạo khoảng dừng suy nghĩ thích hợp, lắng nghe, khích lệ và dẫn dắt học sinh hoàn thiện câu trả lời).
  • Bước 5: Cải tiến câu hỏi sau giờ học (ghi chép phản hồi sư phạm, điều chỉnh độ khó và cách diễn đạt cho các lần dạy sau).

Các biện pháp sử dụng câu hỏi cụ thể theo mạch phát triển năng lực:

  • Biện pháp 1: Sử dụng câu hỏi nhằm phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử. Giáo viên hướng dẫn học sinh tiếp cận nguồn sử liệu gốc, văn bản luật, số liệu hoặc văn học để rút ra bản chất lịch sử. Điển hình như tại Bài 23, sử dụng trích đoạn bài thơ "Ai tư vãn" của Ngọc Hân công chúa ("Mà nay áo vải cờ đào / Giúp dân dựng nước xiết bao công trình") kèm câu hỏi: "Hai câu thơ trên nhắc về nhân vật lịch sử nào?" để khơi gợi biểu tượng người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ; hay tại Bài 24, yêu cầu học sinh sưu tầm truyện dân gian trong tập "Trạng Quỳnh" để phân tích đặc trưng văn hóa tinh thần thế kỉ XVI - XVIII.
  • Biện pháp 2: Sử dụng câu hỏi nhằm phát triển năng lực tái hiện và trình bày lịch sử. Thiết kế câu hỏi đòi hỏi học sinh hệ thống hóa sự kiện, đóng vai hoặc bình luận sự kiện. Ví dụ: Tại Bài 19, hệ thống câu hỏi yêu cầu học sinh làm rõ bối cảnh, diễn biến, ý nghĩa và nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê và thời Lý; tại bài học về phong trào Tây Sơn, tổ chức câu hỏi theo hình thức hóa thân vào nhân vật Quang Trung để tường thuật lại công cuộc chống giặc ngoại xâm cuối thế kỉ XVIII; hoặc câu hỏi đánh giá thực tiễn: liên hệ tranh cãi về việc đặt tên đường Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông ở Hà Nội để yêu cầu học sinh phân tích khách quan vai trò của vương triều Mạc trong lịch sử.

Chương 2 cũng nêu kế hoạch thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Tiên Du số 1 (Bắc Ninh) nhằm đối chứng hiệu quả học tập giữa việc dạy học truyền thống và dạy học có sử dụng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu:

  • Điều tra và phản ánh trung thực thực trạng dạy học Lịch sử tại 3 trường THPT (Tiên Du số 1, Hàn Thuyên, Xuân Áng) với 120 phiếu khảo sát, chỉ ra nguyên nhân khiến học sinh chưa hứng thú là do phương pháp giảng dạy thiếu sự kích thích tư duy và cách đặt câu hỏi còn mang tính thụ động.
  • Ghi nhận 86% giáo viên tham gia khảo sát đồng thuận với cấu trúc năng lực tìm hiểu lịch sử bao gồm cả việc nắm vững kiến thức, tự học khai thác tư liệu và rèn luyện kĩ năng trình bày.
  • Xác lập cơ sở sư phạm toàn diện cho việc sử dụng câu hỏi ở giai đoạn Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10 qua hệ thống 4 nguyên tắc và quy trình chuẩn 5 bước.
  • Xây dựng các ví dụ thực tiễn minh họa phương pháp đặt câu hỏi gắn liền với tư liệu văn học, hiện vật điêu khắc (tượng La Hán chùa Tây Phương) và sự kiện lịch sử thực tế (đặt tên đường thời Mạc, phong trào Tây Sơn, kháng chiến chống Tống).

Về giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  • Giáo viên cần chủ động thay đổi thói quen đặt câu hỏi tái hiện đơn thuần; phải đầu tư xây dựng chuỗi câu hỏi có tính phân hóa nhận thức và chuẩn bị kỹ các phương án phản hồi sư phạm trên lớp.
  • Tăng cường việc đưa các nguồn tư liệu lịch sử (sử liệu thành văn, ca dao, thơ văn, hình ảnh di tích) vào bài học thông qua hệ thống câu hỏi dẫn dắt, tránh việc giáo viên giảng giải áp đặt.
  • Các trường THPT và tổ chuyên môn cần quan tâm bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên phương pháp dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực, giảm bớt áp lực chạy đua thời lượng bài giảng để tạo không gian tương tác cho học sinh.

Về đóng góp học thuật:

  • Khóa luận góp phần cụ thể hóa lý luận dạy học môn Lịch sử trong việc phát triển năng lực chuyên biệt cho học sinh theo định hướng đổi mới giáo dục phổ thông.
  • Bổ sung tài liệu thực hành phương pháp dạy học chuyên sâu cho phân môn Lịch sử Việt Nam giai đoạn trung đại (thế kỉ X - nửa đầu thế kỉ XIX) thuộc chương trình Lịch sử lớp 10 chuẩn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Địa bàn khảo sát thực trạng mới chỉ thực hiện trên phạm vi 3 trường THPT (2 trường tại tỉnh Bắc Ninh và 1 trường tại tỉnh Phú Thọ) với dung lượng mẫu gồm 120 phiếu (10 giáo viên và học sinh ở 4 lớp), do đó chưa bao quát hết đặc thù dạy học môn Lịch sử ở các vùng miền khác nhau.
  • Phạm vi nội dung chuyên môn chỉ tập trung vào phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX trong sách giáo khoa Lịch sử 10 chương trình chuẩn, chưa mở rộng sang chương trình nâng cao hoặc các giai đoạn lịch sử khác.
  • Địa bàn thực nghiệm sư phạm giới hạn tại một đơn vị trường học là THPT Tiên Du số 1.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng quy mô điều tra thực trạng và tiến hành thực nghiệm sư phạm trên nhiều đối tượng học sinh, tại nhiều địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau để hoàn thiện bộ công cụ đánh giá.
  • Tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng quy trình và biện pháp thiết kế câu hỏi phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử cho các phần học khác của chương trình môn Lịch sử cấp THPT.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, học viên cao học chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Lịch sử: Nguồn tư liệu tham khảo về phương pháp xây dựng đề cương, thiết kế phiếu điều tra thực trạng sư phạm và vận dụng lí thuyết dạy học năng lực vào bài soạn thực tế.
  • Giáo viên Lịch sử tại các trường THPT: Tài liệu gợi ý trực tiếp cách thức chuyển đổi phương pháp đặt câu hỏi trên lớp từ kiểm tra tái hiện sang kích thích tư duy khai thác tư liệu; quy trình 5 bước và các ví dụ câu hỏi minh họa ở Chương 2 có thể áp dụng trực tiếp vào quá trình soạn giáo án các bài 19, bài 23, bài 24 lớp 10.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn và tổ chuyên môn bộ môn Xã hội: Tham khảo số liệu thực trạng nhận thức của giáo viên và học sinh để định hướng nội dung sinh hoạt chuyên môn, tập huấn đổi mới phương pháp giảng dạy theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Câu hỏi thường gặp

1. Năng lực tìm hiểu lịch sử được định nghĩa như thế nào trong khóa luận?
Năng lực tìm hiểu lịch sử được xác định là khả năng của học sinh trong việc nhận diện các tư liệu lịch sử, khai thác và sử dụng tư liệu phục vụ quá trình học tập; đồng thời có khả năng tái hiện nội dung lịch sử thông qua hình thức nói hoặc viết từ mức độ đơn giản đến phức tạp, và xác định chính xác các sự kiện trong không gian và thời gian cụ thể.

2. Khóa luận đề xuất quy trình sử dụng câu hỏi trong dạy học Lịch sử gồm những bước nào?
Quy trình gồm 5 bước tuần tự:

  • Bước 1: Xác định mục tiêu bài dạy.
  • Bước 2: Lựa chọn nội dung đặt câu hỏi.
  • Bước 3: Xây dựng hệ thống câu hỏi và đáp án.
  • Bước 4: Tiến hành sử dụng câu hỏi trên lớp.
  • Bước 5: Cải tiến câu hỏi sau giờ học.

3. Khóa luận xây dựng mấy nguyên tắc sư phạm khi sử dụng câu hỏi dạy học Lịch sử?
Tác giả xác định 4 nguyên tắc bắt buộc: (1) Đảm bảo nội dung bài học lịch sử; (2) Đảm bảo tính vừa sức; (3) Đảm bảo tính đa dạng trong việc thiết kế câu hỏi; (4) Đảm bảo tính hệ thống.

4. Dữ liệu khảo sát thực trạng ghi nhận bao nhiêu phần trăm giáo viên nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của việc phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử?
Số liệu thống kê từ 120 phiếu khảo sát ghi nhận có 86% giáo viên lựa chọn phương án "Tất cả các phương án trên", tức đồng thuận rằng việc phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử vừa giúp nắm vững, hiểu sâu kiến thức, vừa phát triển khả năng tự học khai thác tư liệu, vừa rèn luyện kĩ năng trình bày, thuyết trình vấn đề lịch sử.

5. Đề tài tiến hành điều tra thực trạng và thực nghiệm sư phạm tại những cơ sở giáo dục nào?
Điều tra thực trạng được thực hiện với 10 giáo viên và học sinh các lớp 10A2, 10A3, 10H, 10G tại 3 trường: THPT Tiên Du số 1 (Bắc Ninh), THPT Hàn Thuyên (Bắc Ninh) và THPT Xuân Áng (Phú Thọ). Địa bàn tiến hành thực nghiệm sư phạm là trường THPT Tiên Du số 1 (Bắc Ninh).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Thị Thúy Hằng đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu đề ra về việc gắn kết lý luận dạy học tiếp cận năng lực với thực tiễn giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp 10. Thông qua hệ thống 4 nguyên tắc sư phạm và quy trình 5 bước thiết kế, công trình cung cấp các giải pháp cụ thể giúp phát triển năng lực nhận diện tư liệu và tái hiện lịch sử cho học sinh THPT. Đây là tài liệu chuyên khảo mang tính ứng dụng cao, đáp ứng trực tiếp yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng của Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018.