Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ 1. Một số khái niệm Tự học Với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện nay thì vấn đề tự học ngày càng quan trọng hơn bao giờ hết. Do vậy, tự học đã và đang là vấn đề được nhiều nhà giáo dục quan tâm và nghiên cứu. Tùy theo cách tiếp cận mà có nhiều định nghĩa khác nhau về tự học.
Tiếp cận dưới góc độ tâm lý học, đáng chú ý là quan điểm của nhà tâm lý N.Rubakin cho rằng tự tìm lấy kiến thức - có nghĩa là tự học. Ông cho rằng tự học là quá trình người học tự so sánh, đối chiếu giữa hỏi và đáp, sự so sánh giữa lí thuyết và thực hành, giữa sách vở với thực tế cuộc sống, từ đó rút ra cho mình một kho tàng tri thức riêng đầy sáng tạo. Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức loài người thành tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể [35; tr. Tiếp cận dưới góc độ giáo dục học, tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp…), cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [43; tr.
Đồng quan điểm này, Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn trong công trình “Tự học lịch sử như thế nào cho tốt” cũng cho rằng tự học là: “Tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ: Quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp… và có khi cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [41; tr. Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” ta thấy được: “Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững những hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, hoặc không theo chương trình và sách giáo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoa đã được quy định. Tự học có quan hệ chặt chẽ tới quá trình dạy học, nhưng có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân” [15; tr.174] Một số tác giả lại có cách tiếp cận tự học dưới góc độ hẹp - ngoài giờ lên lớp. Trong bài “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”, Nguyễn Kỳ cho rằng tự học: “…là quá trình phát triển nội tại trong đó chủ thể tự thể hiện mình làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình” [19; tr.
Tác giả Phạm Văn Vượng quan niệm:“Tự học là hình thức học ngoài giờ lên lớp bằng sự nỗ lực, ý thức của cá nhân theo kế hoạch học tập, có thể có mặt trực tiếp của GV hoặc không” [1; tr.92] Theo từ điển Giáo dục học: Tự học là quá tình tự mình hoạt động, lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên (GV) và sự quản lí trực tiếp của cơ sở đào tạo [13; tr.21] Từ các quan niệm về tự học của các nhà nghiên cứu nêu trên, theo chúng tôi: Tự học là quá trình chủ thể tự giác, tích cực thực hiện các nhiệm vụ học tập để chiếm lĩnh tri thức khoa học, rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo. Tự học có thể diễn ra cả ở trên lớp và ngoài lớp học, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được ban hành. Đó là một hoạt động mang tính tích cực, chủ động, tự giác nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao hay đạt được mục tiêu học tập của người học. Năng lực và năng lực tự học Năng lực: Năng lực là một phạm trù từng được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội.
Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Dưới góc độ tâm lý học, năng lực trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu từ thế kỷ XIX, trong các công trình thực nghiệm của F.Ganton năng lực có những biểu hiện như tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hoạt ðộng mới nào ðó. Ngýời có nãng lực là ngýời ðạt hiệu suất và chất lýợng hoạt ðộng cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan nhý nhau. Nãng lực gắn bó chặt chẽ với tính ðịnh hýớng chung của nhân cách.
Theo Cosmovici thì: “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định”.Leonchiev cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”. Theo Từ điển Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tâm lý học đưa ra khái niệm, năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định. Trong khi đó, từ điển tiếng Việt định nghĩa:“Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.
Dưới góc độ giáo dục học, theo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [5]. Như vậy, điểm chung trong hai cách tiếp cận về tâm lý học và giáo dục học là khi nói đến năng lực thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó. Năng lực là tổ hợp các thành tố cơ bản có mỗi liên hệ chặt chẽ với nhau gồm tri thức (kiến thức và khả năng nhận thức); hệ thống kỹ năng, kỹ xảo (thể hiện trong nhận thức, hành động thực tế và trong ứng xử xã hội); hệ thống thái độ (thể hiện trong mỗi quan hệ với bản thân, với môi trường sống tự nhiên và với con người). Dựa trên những cách tiếp cận nêu trên, chúng tôi cho rằng năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và có hiệu quả các hoạt động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay các cá nhân trong tình huống khác nhau, trên cơ sở huy động các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng trong hành động.
Năng lực tự học Theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn thì NLTH được hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp, bao gồm các kĩ năng và kĩ xảo, cần gắn với động cơ và thói quen tương ứng, giúp người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra. NLTH còn là sự bao hàm cả cách học, kĩ năng và nội dung học tập, là sự tích hợp tổng thể cách học và kĩ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống - vấn đề khác nhau. Dựa trên quan điểm này, chúng ta có thể nhận thấy NLTH cũng là một khả năng, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một phẩm chất “vốn có” của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, nó luôn là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng mà cả niềm tin, trách nhiệm xã hội…thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội.
Chúng tôi cho rằng NLTH là năng lực biểu hiện thông qua việc xác định đúng đắn mục tiêu học tập; lập kế hoạch và thực hiện cách học; và đánh giá, điều chỉnh cách học nhằm tự học và tự nghiên cứu một cách hiệu quả và có chất lượng. NLTH là khả năng của mỗi người nhưng phải được đào tạo, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn thì nó mới bộc lộ được những ưu điểm giúp cho cá nhân phát triển, nếu không sẽ mãi là khả năng tiềm ẩn. Thời gian mỗi chúng ta ngồi trên ghế nhà trường là rất ngắn ngủi so với cuộc đời vì vậy NLTH của HS sẽ là nền tảng cơ bản đóng vai trò quyết định đến sự thành công của các em trên con đường phía trước và đó cũng chính là nền tảng để các em TH suốt đời. Có 5 NLTH cơ bản cần bồi dưỡng cho HS, đó là: Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề: HS phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lí luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung các bế tắc, nghịch lí cần phải khai thông, khám phá, làm sáng tỏ… Năng lực giải quyết vấn đề: Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận.