Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 1. Khái niệm về năng lực và phát triển năng lực cho học sinh THPT 1. Khái niệm về năng lực Khái niệm năng lực tùy trong từng lĩnh vực hay đối tượng mà được định nghĩa khác nhau: Theo tâm lí học: Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt.
Theo tác giả Đỗ Hương Trà: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác nhau như hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định (Đỗ Hương Trà, 2016). Theo tác giả Lê Đình Trung: Năng lực là những khả năng, kĩ xảo học được hay sẵn có của cá nhân nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội… và kĩ năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt bằng những phương tiện, biện pháp, cách thức phù hợp (Lê Đình Trung, 2016). Ở trong các khái niệm năng lực trên, có ba thành tố xuyên suốt đó là: Kiến thức, kĩ năng, thái độ. Người có năng lực là người biết sử dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt các kiến thức, kinh nghiệm của mình với thái độ say mê, hứng thú,… để hoàn thành tốt một công việc.
Như vậy theo chúng tôi, năng lực là khả năng thực hiện thành công một nhiệm vụ khi phối hợp các kiến thức, kĩ năng của bản thân với thái độ tích cực. Khái niệm về năng lực của học sinh THPT Theo tác giả Đỗ Hương Trà: Năng lực của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ,… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) 6 chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống (Đỗ Hương Trà, 2016). Vậy năng lực của HS cũng là sự phối hợp ba thành tố (kiến thức, kĩ năng, thái độ) để giải quyết thành công nhiệm vụ học tập. Các đặc điểm của năng lực Năng lực phải gắn với một hoạt động cụ thể ví dụ: Năng lực làm việc, năng lực dạy học, năng lực hợp tác… Năng lực được hình thành và bộc lộ trong quá trình hoạt động.
Năng lực chịu sự chi phối của các yếu tố môi trường tự nhiên và xã hội, cá nhân. Với các đặc điểm trên việc hình thành và đánh giá năng lực học sinh phải được thực hiện trong quá trình hoạt động dạy học. Một số năng lực cần phát triển cho học sinh THPT Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2017) đã chỉ rõ mười năng lực cần hình thành và phát triển cho HS. Bao gồm: Ba năng lực chung: Năng lực tự chủ và tự học Năng lực giao tiếp và hợp tác Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Và bảy năng lực chuyên môn: Năng lực ngôn ngữ Năng lực tính toán Năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội Năng lực công nghệ Năng lực tin học Năng lực thẩm mỹ Năng lực thể chất 7 1.
Năng lực sáng tạo của học sinh 1. Khái niệm Theo tác giả Phan Dũng: Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất cứ cái gì có đồng thời tính mới và tính ích lợi trong phạm vi áp dụng cụ thể. Sáng tạo là một khả năng của riêng con người, sáng tạo đi kèm với tính mới và tính hiệu quả, nó được bộc lộ trong hoạt động nhận thức. Vì vậy con người ai cũng có khả năng sáng tạo tiềm tàng trong một lĩnh vực riêng, tuy nhiên để bộc lộ được thì phải luyện tập thường xuyên trong lĩnh vực đó (Phan Dũng, 2010).
Theo Tâm lí học: Sáng tạo được sinh ra trong hoạt động của con người, là sự phát hiện ra mối liên hệ, những quy luật đang tồn tại trong đồ vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy chưa được biết đến trước đó. Sáng tạo là một hoạt động của con người gắn liền với tư duy. Vì vậy, nếu thiếu tư duy thì không thể sáng tạo nhưng đồng thời ngoài tư duy thì còn các yếu tố khác chi phối sáng tạo như thái độ, tình cảm, say mê, tò mò, thể lực…và các yếu tố bên ngoài như công cụ, tư liệu, môi trường… (Nguyễn Quang Uẩn, 2005). Về mặt cấu trúc hoạt động sáng tạo của con người được cấu thành từ bốn bộ phận: Chủ thể sáng tạo; vấn đề sáng tạo; điều kiện khách quan và sản phẩm sáng tạo.
Trong đó yếu tố chủ thể sáng tạo là yếu tố giữ vai trò quan trọng. Trong chủ thể sáng tạo thì năng lực sáng tạo của chủ thể là yếu tố trung tâm. Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn: Năng lực sáng tạo là khả năng tạo những cái mới hoặc giải quyết vấn đề một cách mới mẻ của con người (Huỳnh Văn Sơn, 2009). Theo tác giả Trần Việt Dũng: Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra cái mới có giá trị của cá nhân dựa trên tổ hợp các phẩm chất độc đáo của cá nhân đó (Trần Việt Dũng, 2013).
Qua việc nghiên cứu các khái niệm trên chúng tôi đưa ra khái niệm năng sáng tạo của học sinh như sau: Năng lực sáng tạo của học sinh là khả năng kết nối các kiến thức, kĩ năng, thái độ… đã có để tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới hay đơn giản chỉ là sự vận dụng thành công vào hoàn cảnh mới. Năng lực sáng tạo gồm ba thành phần cơ bản (Trần Việt Dũng, 2013): 8 Tư duy sáng tạo: là các thao tác, cách thức của não bộ xử lí, biến đổi các thông tin để hình thành ý tưởng cho vấn đề sáng tạo. Động cơ sáng tạo: là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động sáng tạo. Ý chí: giúp chủ thể vượt qua các khó khăn trong quá trình sáng tạo.
Để hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho HS thì cần rèn luyện tư duy sáng tạo, nuôi dưỡng động cơ và ý chí tích cực trong trình học tập. Đồng thời việc đáng giá năng lực sáng tạo của HS không chỉ đánh giá nhất thời tại một thời điểm mà phải đánh giá trong cả một quá trình. Biểu hiện năng lực sáng tạo của học sinh Trong giáo dục, thang cấp độ tư duy được xem là một công cụ nền tảng để xây dựng mục tiêu giáo dục, xây dựng các chương trình, hệ thống hóa các câu hỏi, bài tập dùng để kiểm tra đánh giá quá trình học tập. Thang cấp độ tư duy đầu tiên được xây dựng bởi Benjamin S.
Hai cấp độ “Biết” và “Hiểu” được coi là tư duy bậc thấp, bốn cấp độ còn lại là tư duy bậc cao. Sau này, vào năm 1999 thang Bloom được đề xuất điều chỉnh gọi là thang Bloom tu chính (Bloom’s Revised Taxonomy) gồm: Nhớ (Remembering), Hiểu (Understanding), Vận dụng (Applying), Phân tích (Analyzing), Đánh giá (Evaluating), Sáng tạo (Creating). Ở thang đo này sáng tạo cấp độ tư duy cao nhất. Trong tâm lí học, sáng tạo lại được chia ra thành 5 cấp độ: Sáng tạo biểu đạt; Sáng chế; Phát minh; Sáng tạo ở mức cải biến và Sáng tạo có thể tạo ra các lĩnh vực ngành nghề mới.
Đối với HS, hành động mang tính sáng tạo trong học tập Vật lí được thể hiện như sau (Nguyễn Đức Thâm, 2002): Khả năng tự lực chuyển kiến thức, kĩ năng đã biết sang giải quyết tình huống Vật lí mới. Phát hiện được chức năng mới ở đối tượng quen biết. Đề xuất ý kiến riêng, lí giải riêng của cá nhân về một hiện tượng, một nguyên tắc hay một quá trình nào đó. 9 Đưa ra được các phương án thiết kế, chế tạo dụng cụ thí nghiệm khác nhau.
Dự đoán và giải thích được các kết quả thí nghiệm, phương án thí nghiệm chính xác, các sai số. Đề xuất được các phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán và kết quả lí thuyết đã học. Vận dụng kiến thức đã học giải thích linh hoạt một số hiện tượng Vật lí, các ứng dụng Vật lí trong kĩ thuật. Tự kiểm tra đánh giá và điều chỉnh những sai lầm gặp phải.
Biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh Qua việc phân tích khái niệm sáng tạo và năng lực sáng tạo, thấy rõ để hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cần: Tạo môi trường sáng tạo. Tạo điều kiện để cá nhân có năng lực sáng tạo phát huy. Xây dựng nội dung, đánh giá theo năng lực sáng tạo. Đối với HS, các biện pháp để hình thành và phát triển năng lực sáng tạo trong hoạt động giáo dục đó là (Nguyễn Đức Thâm, 2002): Biện pháp 1: Tổ chức hoạt động dạy học thông qua các hoạt động sáng tạo Việc tổ chức các hoạt động dạy học theo chu trình sáng tạo sẽ giúp HS rèn luyện được tư duy sáng tạo.
Cụ thể trong quá trình xây dựng kiến thức mới giáo viên tổ chức các hoạt động sáng tạo sẽ giúp cho HS nhận thức được con đường phát hiện ra cái mới, kiến thức mới, giải pháp mới. Giáo viên (GV) cũng có thể giới thiệu cách thức các nhà khoa học sáng tạo, để từ đó HS có được kinh nghiệm về sáng tạo. Biện pháp 2: Giải các bài tập sáng tạo Bài tập sáng tạo là những bài tập có yếu tố kĩ thuật, bài tập thiết kế thí nghiệm và mô hình. Khi giải các loại bài tập này đòi hỏi HS không những phải vận dụng 10 kiến thức đã học mà còn phải đề xuất các ý kiến mới mà không thể suy luận từ kiến thức cũ.
Biện pháp 3: Dự đoán, xây dựng giả thuyết, lập kế hoạch để giải quyết các nhiệm vụ Trong năng lực sáng tạo thì tư duy sáng tạo giữ vai trò quan trọng. Con người chỉ có năng lực sáng tạo phát hiện ra cái mới khi có tư duy sáng tạo. Trong tư duy sáng tạo lại có bốn thành tố hợp thành: Thông tin, dữ liệu làm chất liệu đầu vào của tư duy; Vấn đề sáng tạo; Hệ thống những thao tác, cách thức của não bộ xử lí, biến đổi; Kết quả của tư duy sáng tạo. Trong đó thành tố thứ 3 là thành tố đặc trưng của tư duy sáng tạo.