Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển năng lực lãnh đạo UDCNTT trong dạy học cho Hiệu trưởng trường PTDTNT. Chương 2: Cơ sở thực tiễn về phát triển năng lực lãnh đạo UDCNTT trong dạy học cho Hiệu trưởng trường PTDTNT khu vực Tây Nguyên. Chương 3: Giải pháp phát triển năng lực lãnh đạo UDCNTT trong dạy học cho Hiệu trưởng trường PTDTNT khu vực Tây Nguyên. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC CHO HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 1. Những nghiên cứu về năng lực lãnh đạo và phát triển năng lực lãnh đạo CNTT đã trở thành phương tiện hữu ích cho sự phát triển kinh tế - xã hội, phương tiện hữu ích trong giao tiếp và giáo dục và làm cho con người trên toàn cầu kết nối vào nhau thành những tổ chức xã hội rộng lớn không có phân biệt giai cấp. CNTT có vai trò rất lớn trong tổ chức, nhưng để tổ chức phát triển một cách bền vững thì không thể không có vai trò của người lãnh đạo trong tổ chức. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về lãnh đạo và năng lực lãnh đạo, nhất là ở Mỹ, Châu Âu và một số nước phát triển khác.
Tiêu biểu nhất là các nghiên cứu và các tác giả dưới đây: John C. Maxwell (1993) [95], trong tác ph m“Phát triển kỹ năng lãnh đạo” đã chỉ ra những kỹ năng lãnh đạo cần thiết của một nhà lãnh đạo như: Kỹ năng gây ảnh hưởng; kỹ năng lựa chọn theo thứ tự ưu tiên; kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng tạo ra sự thay đổi tích cực; kỹ năng phát triển đội ngũ nhân sự… và chứa đựng những nguyên tắc bất biến, trường tồn mà bất cứ ai muốn trở thành nhà lãnh đạo tài ba cũng phải áp dụng và thực hành. Maxwell (1998) [96], đề cập đến “21 nguyên tắc vàng của nghệ thuật lãnh đạo”, trong đó có một số nguyên tắc tiêu biểu như: Khả năng lãnh đạo quyết định cấp độ hiệu quả; thước đo chính xác nhất của nghệ thuật lãnh đạo là ảnh hưởng; năng lực lãnh đạo phát triển từng ngày, không phải ngày một ngày hai; ai cũng có thể lái tàu, nếu có người chỉ huy lập hải trình; khi nhà lãnh đạo thực thụ lên tiếng, mọi người đều lắng nghe; niềm tin là nền tảng của sự lãnh đạo…với nghiên cứu này tác giả đã nêu bật được tầm quan trọng của 21 nguyên tắc trong nghệ thuật lãnh đạo. Tác giả đã chỉ ra rằng các nguyên tắc chính là nền tảng của sự lãnh đạo; các nguyên tắc có thể đứng độc lập nhưng đều có tác dụng bổ trợ cho nhau.
Maxwell (2001) [97] trong tác ph m nói về “17 luật không thể tranh cãi về làm việc theo nhóm” là sự chia sẻ những nguyên tắc sống còn - hữu ích trong mọi lĩnh vực đời sống của xây dựng nhóm hiệu quả như: lựa chọn thành viên nhóm, xác định mục tiêu chung của nhóm, lãnh đạo nhóm,… 8 Richard L. Ginnett và Gordon J.Curphy (2009) [105], với tác ph m “Leadership”, McGraw - Hill Education đã chỉ ra rằng: Việc lãnh đạo là một quá trình chứ không phải là một vị trí; lãnh đạo là việc của mọi người; lãnh đạo bao hàm sự tương tác giữa người lãnh đạo, cấp dưới và tình huống; năng lực lãnh đạo được phát triển thông qua kinh nghiệm và quá trình giáo dục; quyền lực và sự ảnh hưởng; những đặc điểm của năng lực lãnh đạo; hành vi lãnh đạo; các kỹ năng lãnh đạo… Bên cạnh đó nghiên cứu còn nhấn mạnh đến sự quan trọng của việc thiết lập mục đích, điều hành cuộc họp, đàm phán, giải quyết mâu thuẫn trong nhóm và xử lý stress của cá nhân. Warren Bennis (2009) [109] trình bày về tầm quan trọng của lòng tự tin, khả năng nhìn xa trông rộng, đạo đức, trực giác và lòng tin vào trực giác là rất cần thiết đối với nhà lãnh đạo. Tác giả nhấn mạnh nhà lãnh đạo cần học hỏi từ mọi thứ, nhưng nhiều nhất là từ chính kinh nghiệm của bản thân mình.
Họ cũng cần phải học từ nghịch cảnh và lỗi lầm đã phạm phải. Họ học cách lãnh đạo trong quá trình tự lãnh đạo chính bản thân mình. Doug Crandall and Jim Collins (2006) [91], với công trình “Leadership Lessons from West Point” bao gồm 19 chương với rất nhiều ý tưởng của những người thuộc mọi cấp bậc trong quân đội; từ những học viên đến các vị tướng. Nó phản ánh thực chất việc truyền thụ kinh nghiệm, sự uyên bác và những nỗ lực để đào tạo, dạy dỗ, truyền cảm hứng cho thế hệ quân nhân tương lai của Mỹ.
Đó là tổng hợp của khả năng lãnh đạo, sự học hỏi không ngừng cũng như việc đào tạo là một khía cạnh tuyệt vời của Học viện cùng với nhiều kinh nghiệm chân thực về phát triển. Trong cuốn sách này, tác giả đã đưa ra những ý tưởng cũng như học thuyết luôn tiến về phía trước, những bài học thực tế từ nỗ lực hoàn thiện, giúp người đọc có được nhiều cảm hứng từ đó phát triển kinh nghiệm bản thân để hướng đến tương lai. Đồng thời tác giả mở ra những cánh cửa vào thế giới của sự phát triển, thông qua khả năng lãnh đạo với sự thẳng thắn, những câu chuyện đầy sức thuyết phục, thực tiễn sinh động và ý tưởng tiên phong. Meyer (1993) [99] chỉ ra sáu kỹ năng mà bất kỳ cán bộ khu vực hành chính công nào cũng cần gồm: Kỹ năng tiếp thu, phân tích, tổng hợp và diễn đạt các thông tin liên quan với công việc được giao.
Nói cách khác, đó là khả năng xử lý thông tin để giải quyết các vấn đề phức tạp trong những hoàn cảnh khác nhau; Kỹ năng giao tiếp hiệu quả với đồng nghiệp và công dân; Kỹ năng sử dụng hiệu quả các công cụ hỗ trợ tác nghiệp và quản lý; Kỹ năng phối hợp và xử lý công việc hiệu quả với các đối tượng, 9 nhóm đối tượng khác nhau; Kỹ năng quản lý thời gian và tổ chức, sắp xếp công việc được giao; Kỹ năng quản lý sự căng thẳng và cân bằng công việc với nhu cầu cá nhân. Nghiên cứu của OECD (2001) [102] về phát triển lãnh đạo, quản lý khu vực hành chính công đã khẳng định đây không phải là một chủ đề mới nhưng vẫn luôn có tính thời sự cao. Theo OECD, chủ đề này đã dành được sự quan tâm lớn từ chính phủ các quốc gia thuộc OECD trong suốt hai thập kỷ qua. Lý do là các quốc gia OECD đã sớm nhận ra một khoảng trống lớn (Big Gap) giữa khả năng đáp ứng của khu vực hành chính công và nhu cầu quốc gia trong tương lai, giữa văn hóa khu vực hành chính công và kỳ vọng của người dân.
Giải pháp là phát triển đội ngũ lãnh đạo, quản lý khu vực hành chính công tốt, từ đó tạo ra các chính phủ tốt. Tác giả Nguyễn Hữu Lam (1997), với tác ph m “Nghệ thuật lãnh đạo” [54] đã phân tích những ph m chất, phong cách và các kỹ năng cần có của nhà lãnh đạo. Đồng thời tác giả cũng chỉ ra rằng: Lãnh đạo gắn liền với quyền lực và sự ảnh hưởng; lãnh đạo phải theo tình huống và phải luôn mới về chất. Tác giả Đỗ Tiến Long (2010), trong nghiên cứu về “Triết lý Kaizen và lãnh đạo doanh nghiệp” [60], đã phân tích được những nét đặc sắc của triết lý Kaizen và đặc điểm của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Nhật Bản, từ đó so sánh với những đặc điểm của lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế, đồng thời chỉ ra những thách thức mà giới lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam cần phải vượt qua để áp dụng thành công triết lý Kaizen.
Tác giả Đặng Ngọc Sự (2011), trong luận án tiến sĩ về “Năng lực lãnh đạo – nghiên cứu tình huống của lãnh đạo các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam” [73] chủ yếu đề cập đến những vấn đề lý luận như: lãnh đạo và lãnh đạo hiệu quả; các mô hình lãnh đạo hiệu quả; năng lực lãnh đạo; cấu thành của năng lực lãnh đạo. Đồng thời vận dụng lý luận để tìm hiểu thực tiễn năng lực lãnh đạo tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. Luận án cũng đã chỉ ra được những điểm mạnh và những điểm yếu cần khắc phục, từ đó đề xuất một số giải pháp về tầm nhìn chiến lược; nâng cao năng lực động viên, khuyến khích nhân viên; nâng cao năng lực phân quyền và ủy quyền; nâng cao năng lực giao tiếp… Tác giả Đinh Việt Hòa (2012), trong bài viết về “Tầm nhìn và chiến lược giúp lãnh đạo tạo ra thay đổi”[45] đã làm rõ được tầm quan trọng của vấn đề tầm nhìn – chiến lược. Tác giả cho rằng việc lập kế hoạch tốt có vai trò đặc biệt quan trọng trong 10 các tổ chức.
Tuy nhiên, kế hoạch và tầm nhìn – chiến lược không thể thay thế cho nhau vì chúng phục vụ cho những mục đích khác nhau. Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu khác viết về năng lực lãnh đạo và kỹ năng lãnh đạo đã được công bố như: Tác giả Ngô Thành Can (2006) [30] đã có nghiên cứu về “Đào tạo phát triển năng lực cho công chức lãnh đạo ở Singapore”. Nghiên cứu chỉ ra tại quốc gia này, việc phát triển năng lực được thực hiện thông qua các chương trình đào tạo, gồm: (1) Chương trình đào tạo của Trường Đào tạo công vụ Singapore áp dụng cho bồi dưỡng, phát triển năng lực thực hiện công việc lãnh đạo cơ quan cấp sở, vụ; (2) Chương trình LEAD (Leadership Execution – Adminitration and Public Management – Development) phát triển nghề nghiệp của các công chức, bao gồm 3 phần cơ bản: lãnh đạo, điều hành và quản lý hành chính. Chương trình LEAD nhấn mạnh tới các đặc tính và các giá trị cốt lõi của công việc ở các cơ quan Chính phủ, xác định năng lực cốt lõi, thực hiện và thái độ mà các công chức cần phải phát triển để thực thi có hiệu quả trong môi trường thay đổi liên tục; và (3) Chương trình lãnh đạo cho công chức cao cấp có 3 loại: Chương trình nền tảng – Dịch vụ hành chính; Các chương trình phát triển; Diễn đàn hay thảo luận.
Như vậy, năng lực lãnh đạo là vấn đề thu hút được rất nhiều sự quan tâm, tuy nhiên các công trình nêu trên chủ yếu nghiên cứu và ứng dụng các kỹ năng lãnh đạo chung cho các doanh nghiệp và các khu vực hành chính công Việt Nam. Những nghiên cứu về thực trạng năng lực lãnh đạo cho các trường học còn hạn chế.