chương 1 17 PISA (2012). Assessment and Analytical Framework Mathematics, Reading, Science, Problem solving and Financial literacy. Truy xuất từ: http://www.org 10 lựa chọn VB và quan niệm đánh giá NL đọc hiểu, có thể thấy PISA chú trọng đến khả năng đọc hiéu những VB có nội dung truyền tai thông tin về thế giới thực của người đọc. Nhìn chung, trên thé giới, van đề VBTT đã được rất nhiều cá nhân và tô chức giáo dục tiến hành nghiên cứu một cách chỉ tiết và có hệ thống.
Các công trình này góp phần xây dựng nên hệ thống cơ sở lí thuyết hoàn chỉnh về thé loại VBTT như: khdi niệm, đặc trưng thể loại, hệ thống phán loại, cấu trúc, các kỹ năng đọc VBTT,. Bên cạnh đó, có thể thấy điểm thống nhất giữa các công trình đó là điều nhìn nhận tầm quan trọng và ảnh hưởng của loại VB này đối với sự phát triển của xã hội nói chung và của hoạt động giáo dục nói riêng. Theo đó, việc đọc và biết đọc VBTT sẽ góp phần giúp cho người đọc trang bị những kiến thức và kĩ năng cần thiết, từ đó, tham gia vào các hoạt động xã hội một các hiệu quả và thuận lợi hơn. s* O trong nước 7 Ở Việt Nam, VBTT cũng không phải là một khái niệm quá mới mẻ trong giảng dạy và nghiên cứu vì đã có nhiều công trình nghiên cứu về khái niệm và đặc trưng của kiểu loại VB này.
Trong bài viết Văn bản thông tin trong chương trình Ngữ Văn của một số nước trên thé giới, tac giả Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2016) đã tiến hành khảo sát, tổng hợp các ý kiến, quan niệm của các tô chức giáo dục, CT day tiếng ở một số quốc gia trên thế giới về cách gọi tên, khái niệm, các đặc trưng,.của loại VBTT. Cụ thể tác giả đã nhấn mạnh: “Chương trình Ngữ văn của một số nước đã dùng những tên gọi khác nhau dé chỉ loại VB có nội dung liên quan trực tiếp đến thé giới hiện thực, không sử dụng những yếu tố hư cấu, tưởng tượng, thực hiện chức năng chủ yếu là cung cấp thông tin ”!8. Sau khi tông hợp điểm thống nhất giữa các ý kiến, quan niệm, tác giả đã đưa ra cách hiểu chung về VBTT cũng như những đặc trưng cơ bản của loại VB này. Tác giả cho rằng VBTT là một loại VB quan trọng trong cuộc sống, lưu trữ thông tin liên quan đến người thật, việc thật, được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, nghiên cứu và giảng dạy cho HS.
Đồng thời, cũng không thể phủ nhận đây là một loại VB 18 Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2016). Văn bản thông tin trong chương trình Ngữ Văn của một số nước trên thế giới. Truy xuất từ: https://phuongphapgiangday.com/2016/03/13/van-ban-thong-tin-trong-chuong-trinh-ngu-van-cua-mot-so-nuoc -tren-the-gioi/#_ftn1 (truy cập ngày 10/4/2018) 11 phức tạp mà không phải người đọc nào cũng có thể tiếp cận dé dàng. Có thé nói bài viết đã có đóng góp to lớn về mặt lí luận trong hoạt động nghiên cứu VBTT ở Việt Nam, làm cơ sở cho các đề tài khoa học khác minh định khái niệm và triển khai các van đề xoay quanh loại VB gắn liền với thực tiễn này.
Giáo trình phương pháp dạy đọc văn bản của Nguyễn Thị Hồng Nam (chủ biên) và Dương Thị Hồng Hiếu (2017) là công trình nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống đầu tiên về phương pháp dạy đọc các kiểu loại VB ở Việt Nam, trong đó có VBTT. Công trình đã tiến hành làm rõ khái niệm và đặc trưng của loại VBTT; đồng thời chỉ ra sự khác biệt giữa loại VB nay với các loại VB khác (VBVC và VBNL). Theo các tác gia: “So với VBVC, VBTT có những đặc điểm riêng về nội dung, von từ vựng cũng như cách tổ chức, trình bày thông tin. Chính những yêu tô này đã tạo nên sự khác biệt cho VBTT và làm cho việc đọc VBTT cũng có những điểm riêng, khác với việc đọc VBVC”°.
Có thé nói công trình đóng vai trò hết sức quan trong trong việc làm cơ sở lí thuyết nền tang cho các nghiên cứu các van dé cụ thé liên quan đến VBTT và cách dạy đọc thé loại VB này. Dự thảo chương trình Ngữ Văn sau năm 2018 tháng (tháng 1/2018) đưa ra khái niệm VBTT như sau: “VBTT là kiểu loại VB chủ yếu nhằm cung cấp thông tin. Dựa trên cách hiểu này, Dự thảo cũng xác định các tiểu loại của VBTT là “thuyết mình, nhật dụng”. Tuy không trình bày một cách hệ thống, chỉ tiết, nhưng việc đề cập rõ khái niệm và các tiểu loại VBTT trong Dự thảo đã cho thấy CT môn Ngữ văn từ sau năm 2018 bắt đầu chú trọng nhiều hơn kiểu loại VBTT.
Từ đây đặt ra yêu cầu và hướng nghiên cứu cu thê cho các nhà giáo dục về kiêu loại VB nay. Như vậy, ở Việt Nam, VBTT cũng đã được tiễn hành nghiên cứu một cach chi tiết trong những năm trở lại đây. Cùng quan điểm với các nhà nghiên cứu nước ngoài, các công trình nghiên cứu VBTT trong nước cũng tiễn hành nghiên cứu loại VB này trong mối liên hệ với hoạt động giáo dục. Cụ thể là các nghiên cứu đã tập trung tiếp nhận những thành tựu nghiên cứu về VBTT trên thế giới, từ đó, đưa ra những đề xuất, hướng phát triển trong việc tìm hiểu và giảng dạy loại VB này ở Việt Nam.
19 Nguyễn Thi Hồng Nam & Dương Thị Hồng Hiếu (2017). Giáo trình phương pháp dạy doc van bản. NXB Đại học Cần Thơ. Về vấn đề phương pháp dạy đọc văn bản và văn bản thông tin theo hướng phát triển năng lực “ O nước ngoài >, Trên thé giới, việc day doc VB nói chung va VBTT nói riêng theo hướng phát triển NL là một vấn đề đã được quan tâm và nghiên cứu rộng rãi.
Theo khảo sát của chúng tôi, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề xuất các biện pháp, kỹ thuật đọc VBTT hiệu quả, nhanh chóng cho người doc: Một trong những công trình quan trọng nghiên cứu cụ thé và có hệ thống về các biện pháp hướng dẫn HS đọc VBTT là Think literacy: Cross-Curricular Approaches Grade 7-12 (2005)2°. Công trình này được xây dựng và tổng hợp bởi tô chức giáo dục The Ontario Music Educations ’Association. Công trình tập trung xây dựng được nhiều mô hình mới hướng dẫn HS tiếp cận VBTT nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động của HS bằng cách cho các em thường xuyên thảo luận, ghi chú, làm việc nhóm, tự học, tô chức trò chơi,.Các biện pháp này được xây dựng theo hướng bam sat tiến trình đọc của HS, bao gồm 3 giai đoạn: chuẩn bị đọc (getting ready to read), tham gia đọc (engaging in reading) và phản hồi sau khi doc (reacting to reading). Bên cạnh các biện pháp dạy đọc, công trình còn thiết kế nhiều mô hình bảng biểu, sơ đồ mà GV có thé tham khảo dé vận dụng trong quá trình dạy đọc VBTT cho HS, chang hạn như: biểu do tiến trình tư duy với các từ tin hiệu (Flow Chart with Signal Words to Oganize Thinking), biểu mẫu hoạt động tổng kết “Hai mặt của vấn dé” (Both Sides Now - Template for Making Judgemant), bảng “Tôi nghĩ - Tôi đọc - Vi vậy” (I think - I read - Therefore),.
Công trình nay là một gợi ý thiết thực cho các nhà giáo dục trong việc thiết kế các hoạt động dạy học VBTT theo hướng phát huy tính chủ động cũng như trang bị những kĩ năng đọc VBTT cần thiết cho HS. Trong bài viết Improve reading in Primary Grade (2012)?!, xuất phát từ thực trạng doc VB không hiệu quả của hoc sinh Mỹ, Nell.Block đã đề 20 Truy xuất từ: https://www.org/FORSTAFF/NewTeacherlnduction/Documents/crosscurric. Improve reading in the Primary Grades. Future of Children 22.
fall 2012 22 Trước đó Duke (2004) cũng đã tiến hành thực công trình độc lập “Strategies for Building Comprehension of Information Text” (công bố tại Đại học Mechigan, New York), đề xuất các chiến lược đọc VBTT hiệu quả cho người đọc. 13 xuất một số gợi ý cho các nhà giáo dục khi tiến hành dạy HS tiếp cận VBTT. Chang hạn như, khi đề xuất kỹ năng đọc từ vựng và nghiên cứu cơ sở từ vựng, các tác giả cho rằng GV không chỉ hướng HS biết cách đọc đúng từ vựng mà còn phải dạy cho các em biết cách vận dụng trong một số tình huống cụ thé vì điều này sẽ giúp việc hiểu từ ngữ trong VB hiệu quả hon va lâu hơn. Về ki năng giải mã từ vựng, các tác giả cho rang, trong quá trình đọc VB, GV có thể trao đôi hoặc tiến hành các hoạt động tương tác với HS về những từ vựng có trong VB.
Điều này tạo cơ hội cho HS tiếp thu từ vựng, làm giàu vốn từ vựng của bản thân. Kĩ năng phát triển kiến thức từ nội dung VB là một kỹ năng quan trọng khác mà các nhà giáo dục gợi ý hình thành cho HS bên cạnh việc khai thác ngôn từ. Trong kỹ năng nay, các nhà giáo dục gợi ý các thao tác, kỹ năng đọc góp phần hỗ trợ HS hiểu nội dung và phát triển kiến thức thu nhận được, cụ thể như: dir đoán, đặt câu hỏi, hình dung, rút ra kết luận, tóm tắt hoặc kể lại. Đề nhẫn mạnh tầm quan trọng cua ky năng đọc mở rộng, các tác giả đã đưa ra một loạt các vi dụ những HS được tạo điều kiện đọc thêm VB ngoài trường học, những HS này đều có thành tích cao hơn cho với các bạn cùng trang lứa.
Từ đó, các nhà giáo dục khuyến khích GV cần cho HS tiếp nhận nhiều nguồn thông tin hơn thay vì chỉ cho HS đọc một VB trong tiết học. Mặc dù phạm vi nghiên cứu của công trình tập trung hướng tới đối tượng HS cấp tiêu hoc (Primary) nhưng qua việc khảo sát những gợi và cơ sở đề xuất, chúng tôi nhận thây các khuyến nghị vẫn có thể được thực hiện ở các cấp học cao hơn. Trong CT dạy tiếng ở một số quốc gia, VBTT thông tin cũng được chú trọng đưa vào giảng dạy nhằm hình thành và phát triển các NL giao tiếp của người học, nhất là NL đọc VBTT.