Phần Mở đầu Phần Nội dung, gồm 3 chương Phần Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÁN BỘ QUẢN LÝ TRẠM Y TẾ TUYẾN CƠ SỞ 1. Các khái niệm chủ yếu 1. Khái niệm cán bộ quản lý trạm y tế tuyến cơ sở Luan van Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Định nghĩa kinh điển và được sử dụng phổ biến là: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Quản lý trạm YT là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý (trưởng trạm) đến tập thể cán bộ, viên chức YT để chính họ tác động trực tiếp đến quá trình chăm sóc sức khỏe nhằm thực hiện mục tiêu bảo vệ sức khỏe nhân dân. Quản lý trạm YT là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, nhân viên YT nhằm thực hiện có chất lượng mục tiêu, kế hoạch bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, trên cơ sở tận dụng các nguồn lực, vật lực và tài lực hiện có. Thực chất hoạt động quản lý trạm YT là quản lý quá trình chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo cho quá trình đó vận hành thuận lợi và có hiệu quả. Quá trình chăm sóc sức khỏe nhân dân gồm các nhân tố tạo thành sau: mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện chăm sóc.
Cán bộ YT (lực lượng chăm sóc), cộng đồng dân cư (đối tượng chăm sóc), kết quả chăm sóc sức khỏe. Cán bộ quản lý trạm YT có trách nhiệm phân bổ nhân lực và các nguồn nhân lực khác, chỉ dẫn công việc cho những người làm việc trong trạm YT. Người quản lý trạm YT là người thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu khám chữa bệnh, phòng bệnh cho nhân dân trong xã với kết quả và hiệu quả cao. Cán bộ quản lý trạm YT tuyến cơ sở, do đặc điểm chức năng và nhiệm vụ của mình, vừa là người quản lý vừa là người lãnh đạo.
Từ những phân tích trên có thể hiểu: “Cán bộ quản lý trạm y tế tuyến cơ sở là những người có trình độ theo tiêu chuẩn, nghiệp vụ ngạch viên chức sự nghiệp y tế do Nhà nước quy định, có kiến thức về y tế cộng đồng và năng lực quản lý để chỉ đạo thống nhất các mặt hoạt động y tế đạt chất lượng và Luan van hiệu quả cao, được cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý trạm y tế tuyến cơ sở”. Cán bộ quản lý trạm YT tuyến cơ sở gồm trạm trưởng, phó trạm trưởng. Trạm trưởng là người đứng đầu đơn vị, chịu trách nhiệm trước cấp trên và trước pháp luật về mọi mặt hoạt động của trạm YT tuyến cơ sở và do Giám đốc Trung tâm YT dự phòng quận, huyện bổ nhiệm, có văn bằng về trình độ chuyên môn từ đại học Y trở lên (Bác sĩ, CN Y tế công cộng, CN Điều dưỡng, CN Hộ sinh.) và được đào tạo, tập huấn về kỹ năng quản lý, được bổ nhiệm vào ngạch viên chức sự nghiệp y tế theo tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngành y tế quy định thuộc biên chế của Trung tâm YT dự phòng quận, huyện được tuyển dụng theo quy định và được bổ nhiệm làm CBQL trạm YT tuyến cơ sở. Cán bộ quản lý trạm YT tuyến cơ sở chịu sự quản lý chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Trung tâm YT dự phòng quận, huyện; sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của bệnh viện quận, huyện và các trung tâm chuyên khoa.
Đối với UBND xã, phường, thị trấn: CBQL trạm YT tuyến cơ sở chịu sự quản lý chỉ đạo của Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn về xây dựng kế hoạch phát triển YT của địa phương, có mối quan hệ chặt chẽ với Đảng ủy, chính quyền địa phương và các đoàn thể chính trị - xã hội trong xã, phường, thị trấn để phối hợp thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trên địa bàn. Khái niệm năng lực của người cán bộ quản lý trạm y tế tuyến cơ sở Năng lực của con người là khả năng thực hiện một cách chủ động, sáng tạo, thành thạo và đạt hiệu quả tốt một hoặc một số hoạt động nào đó. Năng lực CBQL trạm YT tuyến cơ sở là một dạng năng lực chuyên biệt, nhưng có quan hệ rất mật thiết với những năng lực chung của con người, trước hết là: - Óc quan sát và năng lực thu thập và xử lý thông tin: Luan van Người CBQL phải có óc quan sát, tìm kiếm, thu nhận và xử lý, sàng lọc thông tin. Giống như máy đa năng, người CBQL phải quét từ môi trường của họ những thông tin có thể ảnh hưởng tới tổ chức của mình và xác định xem thông tin nào là chính xác có thể sử dụng được.
Đồng thời người CBQL phải biết chia sẽ thông tin với cấp dưới và các thành viên khác của tổ chức. - Năng lực trí tuệ: Người CBQL có trí tuệ phát triển tốt thường tích cực tìm tòi để phát hiện các vấn đề, có ý kiến độc lập, nhiều sáng kiến, không lệ thuộc thụ động vào những khuôn mẫu, do đó họ có khả năng thích ứng nhanh với sự phát triển của tình hình nhiệm vụ. Trình độ phát triển trí tuệ của CBQL phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó việc rèn luyện các phẩm chất tư duy, nâng cao năng lực sáng tạo là yếu tố quan trọng nhất. - Năng lực làm việc với con người, với tập thể và văn hoá giao tiếp: Năng lực này đòi hỏi người CBQL phải có kiến thức toàn diện về nhân cách con người, biết vận dụng kiến thức đó để xem xét, đánh giá cán bộ, nhân viên của mình, nhằm sử dụng họ được chính xác.
Đồng thời, CBQL phải nắm chắc và không ngừng hoàn thiện bộ máy tổ chức nhằm đáp ứng tốt yêu cầu của nhiệm vụ. Năng lực quản lý tổ chức của CBQL thể hiện ở chỗ, khéo léo vận dụng tư tưởng “vì công việc mà xếp người”; thực hiện tốt sự phân định trách nhiệm của các cá nhân, các tổ chức; duy trì nguyên tắc, nề nếp, chế độ hoạt động của từng tổ chức; kịp thời sắp xếp lại bộ máy tổ chức khi có biến động về nhân sự hoặc sự thay đổi về nhiệm vụ…Tất cả những công việc đó phải được tiến hành trên cơ sở óc tổ chức và tài xử lý các mối quan hệ có lý, có tình của người CBQL. - Năng lực ra quyết định: Với tư cách là người quản lý, điều hành công việc của đơn vị, người CBQL cần có năng lực ra quyết định, để có thể đề ra được chủ trương đúng và mệnh lệnh chính xác, thấu suốt nhanh chóng tới đối tượng quản lý. Muốn Luan van vậy CBQL cần hết sức chú ý xác định động cơ và mục đích hành động chính xác cho mình và cho cấp dưới.
Mục đích hành động của con người luôn bị chế định bởi hoàn cảnh, điều kiện khách quan. Vì vậy, mỗi hoàn cảnh, điều kiện nhất định thường đòi hỏi những mục đích và phương thức hành động tương ứng với nó. Khi con người nắm bắt được phương thức khái quát của hành động trong những tình huống điển hình và biết vận dụng phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể thì sẽ hành động đạt kết quả cao. Điều này được coi là một điều kiện tâm lý quan trọng để nâng cao năng lực ra quyết định của người CBQL.
Để có thể đảm nhận có hiệu quả trọng trách lãnh đạo và quản lý trạm YT tuyến cơ sở, người CBQL trạm YT tuyến cơ sở phải có năng lực nhất định. Trước hết, khả năng là việc có thể đáp ứng yêu cầu công việc theo một tiêu chuẩn nhất định và có khả năng áp dụng linh hoạt kỹ năng và kiến thức trong những tình huống mới. Còn năng lực là những đặc điểm bên trong cho phép người CBQL làm việc hiệu quả hơn trong nhiều tình huống hơn và thường xuyên hơn với kết quả cao hơn. Nói cách khác, năng lực có thể hiểu là những phẩm chất mà người CBQL có, để có thể hành động bằng nhiều cách khác nhau để đem lại kết quả công việc cao.
Về phẩm chất có ba nhóm: phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức và phẩm chất nghề nghiệp. Phẩm chất chính trị bao gồm: các quan điểm, niềm tin đối với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, trong đó có chủ trương, đường lối y tế, thực hiện công bằng trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, bản lĩnh chính trị vững vàng trước những tác động tiêu cực của môi trường…Phẩm chất đạo đức là sự thống nhất giữa chính trị, đạo đức, văn hóa, xã hội trong nhân cách người CBQL. Đó là niềm tin, thái độ đạo đức phù hợp với các giá trị và chuẩn mực đạo đức, là tấm gương đối với tập thể trạm YT, trung thực trong lối sống, liêm khiết…Phẩm chất nghề nghiệp là sự thống nhất những kiến thức chuyên môn, trình độ nghiệp vụ quản lý, những quan điểm, niềm tin và thái độ nghề nghiệp trong nhân cách người CBQL. Điều đó Luan van thể hiện tính năng động, sáng tạo, thái độ tích cực đối với cái mới, chống bảo thủ, trì trệ…Về năng lực, người CBQL cần có: năng lực nhận thức, nhạy cảm với những thay đổi của môi trường, năng lực ứng xử phù hợp với hoàn cảnh, bảo đảm thực hiện mục tiêu đề ra, năng lực tạo sự đồng thuận trong các thành viên của tổ chức mà mình quản lý…Một trong những biểu hiện của năng lực quản lý là sự thành thạo trong việc sử dụng những kỹ năng quản lý.
Như vậy, năng lực của người CBQL trạm YT tuyến cơ sở là việc giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống nảy sinh, những thách thức mới mà người CBQL trạm YT phải đối mặt, đồng thời phải biết vận dụng một cách sáng tạo những tri thức và kỹ năng đã được trang bị phù hợp với đặc điểm của cá nhân. Từ những phân tích trên có thể hiểu: Năng lực của CBQL trạm y tế tuyến cơ sở được hiểu là tổng thể những khả năng chuyên môn và khả năng tổ chức, điều hành, quản lý, giúp người CBQL trạm YT tuyến cơ sở thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ, công việc được giao.