PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án Làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng là một làng nghề nổi tiếng trong khu vực và quốc tế, đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Bức tranh toàn cảnh về làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước trong giai đoạn năm 2015- 2019 có nhiều điểm sáng, nhiều thành tựu nổi bật như làng nghề đã được thành phố đầu tư quy hoạch vào khu sản xuất tập trung với diện tích 35,5 ha tại địa bàn phường Hòa Hải, giáp ranh phường Hòa Quý, kết cấu hạ tầng làng nghề được đầu tư đồng bộ cơ bản giải quyết một phần nhu cầu về đất sản xuất và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong khu dân cư, số lượng cơ sở sản xuất được thu hút vào khu sản xuất tập trung đến thời điểm này là gần 400 cơ sở sản xuất, mặc dù vẫn còn hơn 150 cơ sở sản xuất chưa được quy hoạch vào khu sản xuất tập trung, vẫn còn sản xuất trong khu dân cư. Số lao động làng nghề hiện nay là hơn 4.000 lao động (gồm lao động trong khu sản xuất và lao động làm việc tại các cơ sở chuyên kinh doanh sản phẩm làng nghề), nhiều sản phẩm làng nghề đã được đa dạng về mẫu mã và cung cấp cho nhiều khách hàng trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, hiện nay làng nghề còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập gồm các vấn đề lớn sau đây: (1) Chưa thực sự đột phá trong khai thác, sử dụng các tiềm năng về nguồn nhân lực. Theo thống kê số lượng lao đông tại làng nghề năm 2019 thì lao động trung bình mỗi cơ sở sản xuất tại làng nghề chiếm tỷ lệ lớn, cụ thể trung bình là 6,5 người/cơ sở, đây là tỷ lệ khá lớn so với số lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn quận (số lao động năm 2019 dưới 5 người có 8.127 doanh nghiệp theo Niên giám Thống kê thành phố Đà Nẵng 2020), trong khi đó lao động chưa qua đào tạo nghề tại các trường mỹ thuật, điêu khắc là 93,05% và đa số được gia đình truyền nghề lại với tỷ lệ học nghề truyền lại từ gia đình chiếm tỷ lệ 55,30% và học từ người khác chiếm 44,70%. Lực lượng lao động này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và năng suất lao động tại làng nghề. Bên cạnh đó, làng nghề chưa khai thác lợi thế vị trí nằm cạnh Danh thắng di tích quốc gia đặc biệt Ngũ Hành Sơn hàng 2 năm đón nhiều du khách đến tham quan, số lượt khách tăng đều qua từng năm từ giai đoạn 2015-2019 (năm 2015 đón 884.077 lượt khách, năm 2016 đón 1.144 lượt khách, năm 2018 đón 1.296 lượt khách, bên cạnh đó nằm gần các địa danh du lịch lớn Huế, Hội An.
Tuy nhiên, số lượt đoàn khách đến tham quan khu sản xuất làng nghề hầu như không có. Các lợi thế về đất đai, cơ sở hạ tầng làng nghề chưa được sử dụng hiệu quả, xuất hiện nhiều bất cập về hạ tầng làng nghề như bố trí diện tích đất cho các cơ sở sản xuất theo hình thức chia lô dạng ống với kích thước chưa phù hợp với chiều ngang hẹp chỉ 5m, chiều dài đến 20-25m nên bất tiện cho bố trí máy móc thiết bị, nguyên vật liệu cho sản xuất đặc thù của các cơ sở sản xuất làng nghề; (2) Vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề đang diễn ra theo xu hướng tăng như: tiếng ồn, bụi đá và nước thải đã ảnh hưởng tiêu cực đến khu sản xuất và cuộc sống của người dân gần làng nghề; (3) Số lượng cơ sở sản xuất nhiều nhưng còn nhỏ lẻ, sản xuất nhỏ, ít cơ sở sản xuất lớn, cụ thể loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh hầu hết chủ yếu ở dạng cơ sở sản xuất kinh doanh hộ cá thể chiếm tỷ lệ rất lớn đến 98,34%, trong khi các loại hình khác như doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ lệ rất thấp là 1,66%, không có các loại hình hoạt động khác như Hợp tác xã/Tổ hợp tác, Công ty Cổ phần. Bên cạnh đó nguồn vốn huy động thấp nên đã ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề trong đó có vấn đề cạnh tranh đối với các sản phẩm tương tự của nước ngoài như sản phẩm mỹ nghệ của Trung Quốc có mẫu mã đẹp, tinh xảo được sản xuất theo công nghệ hiện đại, giá cạnh tranh, các sản phẩm lưu niệm nhỏ và vừa của làng nghề hiện nay không cạnh tranh được với sản phẩm Trung Quốc. Những vấn đề hạn chế, bất cập của làng nghề phân tích trên ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển bền vững của làng nghề trong giai đoạn toàn cầu hoá, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng như những vấn đề về bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa làng nghề.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu phát triển làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước trong giai đoạn hiện nay là cấp thiết. Qua nghiên cứu, tổng hợp và phân tích đánh giá các mô hình lý thuyết cũng như các bài học kinh nghiệm phát triển một số làng nghề trên thế giới và các làng 3 nghề tại các địa phương ở Việt Nam, có nhiều nghiên cứu chứng minh ứng dụng lý thuyết cụm liên kết ngành vào phát triển làng nghề là phù hợp với tình hình hiện nay. Người đưa ra quan niệm về cụm ngành đầu tiên là Alfred Marshall (1890) được trình bày trong tác phẩm kinh điển với chủ đề ―Các nguyên tắc kinh tế học- Principles of Economics‖, trong tác phẩm này Marshall sử dụng thuật ngữ ―khu vực công nghiệp- industrial district‖ để mô tả sự tập trung và gần kề về địa lý của các doanh nghiệp trong nội ngành, nhờ đó tạo ra tác động tích cực và lợi thế nhờ quy mô cho các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực đó. Tiếp theo là các nghiên cứu của Porter (1990, 1998, 2000, 2003, 2007, 2008), Benner (2012), Andersson và Hansson (2004), Kuchiki (2007) về cụm liên kết ngành.
Các nghiên cứu có chung nhận định cụm liên kết ngành có 5 đặc điểm cơ bản: Thứ nhất, sự tích tụ tập trung các doanh nghiệp cùng ngành trong khu vực địa lý; Thứ hai, sự liên kết và hỗ trợ giữa các doanh nghiệp tham gia vào cụm; Thứ ba, lợi thế cạnh tranh do các doanh nghiệp quần tụ tập trung trong cụm sẽ là lợi thế về việc hợp tác với nhau trong sản xuất, chia sẻ kinh nghiệm, thông tin, cùng sử dụng chung hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực cùng ngành, sử dụng công nghệ tương đồng… sẽ là lợi thế cho các doanh nghiệp trong cụm liên kết ngành; Thứ tư, đổi mới sáng tạo trong môi trường cụm liên kết ngành rất lớn; Thứ năm, sự tham gia của nhà nước qua cơ chế chính sách. Nghiên cứu của Vo et al. (2012) đánh giá rằng làng nghề truyền thống là một dạng cụm liên kết ngành sơ khai nên cần phải được phát triển theo hướng cụm liên kết ngành để phát triển bền vững. Việc tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất làng nghề có quan hệ với nhau về mặt kinh tế - kỹ thuật trong một khu vực lãnh thổ nhất định bằng việc hình thành cụm liên kết ngành là một xu hướng khách quan của quá trình phát triển và được nhiều nước trên thế giới áp dụng thành công thông qua ứng dựng lý thuyết cụm liên kết ngành.
Điển hình là ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan với nhiều làng nghề truyền thống phát triển đã chú trọng phát triển theo hướng cụm liên kết ngành. Đối chiếu với làng nghề truyền thống có các đặc điểm: (i) tồn lại lâu đời gắn với văn hóa địa phương và tập trung trong khu vực địa lý; (ii) làng nghề tuy có sự 4 liên kết nhưng rất lỏng lẻo, ít có sự hỗ trợ giữa các hộ kinh doanh trong làng nghề cũng như với các chủ thể ngoài làng nghề có liên quan. Doanh nghiệp chưa tận dụng được nguồn nhân lực cùng ngành tương đồng nhau, công nghệ lạc hậu, ít đổi mới, hạ tầng kỹ thuật chưa phát triển,… Do đó, để làng nghề phát triển phải nâng cao các điều kiện nêu trên. Từ những phân tích đó, chúng ta có thể thấy rằng làng nghề truyền thống nếu bổ sung đẩy đủ các điều kiện cơ bản của cụm liên kết ngành: tăng sự tích tụ các doanh nghiệp cùng ngành trong một khu vực địa lý; tăng sự liên kết giữa các chủ thể trong làng nghề, khuyến khích đổi mới sang tạo, tăng khả năng cạnh tranh và có chính sách phù hợp.
Vì vậy, việc nghiên cứu phát triển làng nghề truyền thống theo hướng cụm liên kết ngành là hướng đi đúng đắn nhất cả về lý luận và thực tiễn để giúp làng nghề phát triển bền vững. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu đó là:“Phát triển làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước” theo cách tiếp cận cụm liên kết ngành sẽ giải quyết các vấn đề đặt ra hiện nay của địa phương, phù hợp với xu thế phát triển hiện nay trong khu vực và trên thế giới, giúp làng nghề làng nghề phát triển bền vững. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Mục tiêu chung của Luận án là trên cơ sở lý luận về cụm liên kết ngành và làng nghề, phân tích đánh giá thực trạng phát làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước và đề xuất những giải pháp nhằm phát triển làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước theo hướng cụm liên kết ngành.
Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa và bổ sung những vấn đề lý luận về phát triển làng nghề, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về cụm liên kết ngành và đặc điểm làng nghề, làm rõ sự cần thiết và điều kiện phát triển làng nghề truyền thống theo hướng cụm liên kết ngành, qua đó góp phần phát triển có hiệu quả và bền vững làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước trong bối cảnh hiện nay. - Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ 5 Non Nước từ giai đoạn 2015-2019. - Đề xuất định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước theo hướng cụm liên kết ngành. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.
Đối tượng nghiên cứu Các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước theo hướng cụm liên kết ngành. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nội dung: Từ những nội dung chung về bản chất, đặc điểm của cụm liên kết ngành, các điều kiện ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển cụm liên kết ngành.