Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Thị Loan (chuyên ngành Giáo dục Mầm non, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, năm 2021) tập trung giải quyết vấn đề rèn luyện kỹ năng tự bảo vệ và thoát hiểm cho trẻ 5 – 6 tuổi trong bối cảnh các mối nguy cơ thương tích đối với trẻ nhỏ ngày càng gia tăng.
Về mặt thực tiễn, tác giả dẫn số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy mỗi năm trên toàn cầu có hơn 900.000 trẻ em và vị thành niên dưới 18 tuổi tử vong do thương tích, trong đó 90% là thương tích không chủ ý và 95% số vụ tử vong xảy ra tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Tại Việt Nam, số liệu của Cục Quản lý Môi trường ghi nhận trung bình mỗi năm có hơn 370.000 trẻ bị tai nạn thương tích, phân bố theo các nhóm tuổi: 15–19 tuổi chiếm 43%, 5–14 tuổi chiếm 36,9%, và nhóm 0–4 tuổi chiếm 19,5%. Bên cạnh các nguy cơ phổ biến như đuối nước, bỏng, tai nạn giao thông và chấn thương, tác giả viện dẫn các sự cố thực tế gây tổn thất nghiêm trọng đến tính mạng trẻ em tại Việt Nam như vụ học sinh tử vong do bị bỏ quên trên xe đưa đón tại Trường Quốc tế Gateway (Hà Nội), vụ bé 3 tuổi bị bỏ quên trên xe tại cơ sở mầm non Đồ Rê Mí (Bắc Ninh), hay thảm họa hỏa hoạn tại chung cư Carina Plaza (TP. Hồ Chí Minh) làm 13 người chết và 50 người bị thương. Nguyên nhân cốt lõi được tác giả chỉ ra là trẻ chưa được trang bị đầy đủ khả năng nhận biết, phòng tránh và phản ứng trước các tình huống khẩn cấp, trong khi việc giáo dục kỹ năng tại trường mầm non hiện nay còn nặng về thuyết trình lý thuyết, thiếu các bài tập trải nghiệm thực tế.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu cách thiết kế tình huống nhằm phát triển kỹ năng thoát hiểm cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động hằng ngày ở trường mầm non.
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình phát triển kỹ năng thoát hiểm cho trẻ 5 – 6 tuổi.
- Đối tượng nghiên cứu: Thiết kế một số tình huống nhằm phát triển kỹ năng thoát hiểm cho trẻ.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc thiết kế tình huống nhằm phát triển kỹ năng thoát hiểm cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động hằng ngày ở trường mầm non.
- Nghiên cứu thực trạng thiết kế tình huống nhằm phát triển kỹ năng thoát hiểm cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động hằng ngày.
- Nghiên cứu cách thiết kế tình huống nhằm phát triển kỹ năng thoát hiểm cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động hằng ngày ở trường mầm non.
- Tiến hành thực nghiệm các tình huống nhằm phát triển kỹ năng thoát hiểm cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động hằng ngày ở trường mầm non.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn về không gian tại Trường Mầm non 1/6 và khảo sát giáo viên tại Trường Mầm non Họa Mi thuộc quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng; quy mô mẫu khảo sát gồm 30 giáo viên mầm non và 74 trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi (lớp Lớn 1 và Lớp Lớn 2). Thời gian thực hiện đề tài diễn ra từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2021 (giai đoạn điều tra thực trạng tiến hành từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2021). Giả thuyết khoa học của đề tài xác định: nếu thiết kế và tổ chức các tình huống phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và lồng ghép vào hoạt động hằng ngày, trẻ sẽ nhận biết được nguy cơ và hình thành các thao tác thoát hiểm tương ứng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm chuẩn hóa về kỹ năng sống của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), định nghĩa kỹ năng sống là tập hợp năng lực tâm lý xã hội và giao tiếp cá nhân giúp trẻ chuyển hóa nhận thức thành hành động thực tế nhằm ứng phó hiệu quả với các thách thức hằng ngày. Các công trình quốc tế được tác giả tổng thuật bao gồm nghiên cứu về phòng ngừa nguy cơ của Gilbert J. Botvin (1979), Elizabeth Dunn và J. Gordo Arbuckle (2003), nghiên cứu dạy kỹ năng an toàn cá nhân và phòng chống xâm hại của Sandy K. Wurtele và Julie Sarno Owens (2009) trên 406 trẻ mẫu giáo, các tài liệu hướng dẫn an toàn cho trẻ của Gavin De Becker, Debbie và Mike Gardner. Tại Việt Nam, tác giả kế thừa các nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống của Nguyễn Thanh Bình (2008), Mai Hiền Lê (2010), Trần Lệ Thùy (2012).
Về mặt lý luận sư phạm mầm non, tác giả phân tích khái niệm hoạt động hằng ngày (chế độ sinh hoạt) theo khoa học giáo dục mầm non, xác định ba dạng hoạt động cơ bản có thể tích hợp rèn luyện kỹ năng: hoạt động học, hoạt động vui chơi và hoạt động ngoài trời. Thời gian biểu chế độ sinh hoạt trong văn bản được hệ thống hóa như sau:
| Thời gian (phút) |
Nội dung hoạt động trong chế độ sinh hoạt hằng ngày |
| 80 – 90 |
Đón trẻ, chơi, thể dục sáng |
| 30 – 40 |
Hoạt động học |
| 40 – 50 |
Chơi, hoạt động ở các góc |
| 30 – 40 |
Chơi ngoài trời |
| 60 – 70 |
Ăn bữa chính |
| 140 – 150 |
Ngủ trưa |
| 20 – 30 |
Ăn bữa phụ |
| 70 – 80 |
Chơi, hoạt động theo ý thích |
| 60 – 70 |
Trẻ chuẩn bị ra về và trả trẻ |
Đối với lý thuyết về tình huống, văn bản dẫn định nghĩa từ điển và quan niệm của tác giả Nguyễn Bá Kim, xác định thiết kế tình huống là việc tạo ra các sự việc giả định chứa đựng mâu thuẫn nhận thức hoặc thử thách hành động buộc trẻ phải tư duy, phản ứng và giải quyết. Tác giả phân loại tình huống sư phạm thành 6 dạng theo mức độ phức tạp: tình huống chứng minh, tình huống mô tả, tình huống đề cập tới một vụ việc, tình huống nêu ra vấn đề phải giải quyết, tình huống có tính chất tổng hợp, và tình huống có tính chất tham gia trình diễn.
Hệ thống kỹ năng thoát hiểm trong khóa luận được cấu trúc thành 4 nhóm nguy cơ chính:
- Nhóm thoát hiểm khỏi môi trường hoảng loạn khẩn cấp (hỏa hoạn, cháy nổ, chen lấn xô đẩy).
- Nhóm thoát hiểm khỏi thiên tai (ngập lụt, sạt lở đất, động đất).
- Nhóm thoát hiểm khỏi tai nạn thương tích (phòng chống đuối nước, kỹ năng thoát hiểm khi bị kẹt trong xe ô tô).
- Nhóm thoát hiểm khi bị xâm hại cơ thể (phòng chống xâm hại thân thể, ứng phó bắt cóc, đối phó người lạ, kỹ năng khi bị bắt nạt).
Phương pháp nghiên cứu bao gồm:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp và cụ thể hóa tài liệu lý thuyết.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát sư phạm (theo dõi phản ứng của trẻ trong hoạt động hằng ngày); phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (phiếu Anket cho 30 giáo viên và phiếu tranh ảnh cho 74 trẻ); phương pháp đàm thoại, trò chuyện trực tiếp với giáo viên và trẻ; phương pháp thực nghiệm sư phạm có đối chứng; phương pháp so sánh đối chiếu số liệu trước và sau can thiệp.
- Nhóm phương pháp bổ trợ: Thống kê toán học dùng để xử lý dữ liệu khảo sát và phương pháp xin ý kiến chuyên gia.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận việc thiết kế tình huống nhằm phát triển kỹ năng thoát hiểm cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động hằng ngày ở trường mầm non
Chương này tập trung phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, làm rõ bản chất của kỹ năng thoát hiểm như một nhánh chuyên biệt của kỹ năng sống cho trẻ mầm non. Tác giả đi sâu vào các đặc điểm tâm sinh lý ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xử lý tình huống nguy hiểm của trẻ 5 – 6 tuổi:
- Nhận thức và quan sát: Trẻ 5 – 6 tuổi bắt đầu có khả năng phân tích, định hướng không gian nhanh hơn nhưng sự chú ý vẫn dễ bị phân tán nếu hoảng loạn.
- Trí nhớ và tư duy: Chuyển dần từ tư duy trực quan hình tượng sang tư duy trực quan - sơ đồ và bước đầu hình thành suy luận logic sơ đẳng; khả năng ghi nhớ có chủ định giúp trẻ tái hiện các chỉ dẫn đã học.
- Tưởng tượng và ngôn ngữ: Khả năng liên tưởng hình ảnh hỗ trợ trẻ dự đoán hậu quả; ngôn ngữ phát triển giúp trẻ diễn đạt nhu cầu cầu cứu hoặc thông báo tình trạng khẩn cấp cho người lớn.
- Thể chất và sức khỏe: Thể lực, sức bền và sự phối hợp vận động khéo léo là yếu tố quyết định tốc độ thực hiện thao tác bò trườn, mở chốt cửa hoặc chạy thoát.
Ngoài ra, chương 1 khẳng định vai trò của môi trường gia đình, môi trường trường mầm non và cộng đồng xã hội đối với việc rèn luyện thói quen tự vệ cho trẻ, đồng thời chỉ ra tính phù hợp của việc lồng ghép tình huống vào ba hoạt động: hoạt động học (cung cấp tri thức nền), hoạt động vui chơi (mô phỏng tương tác vai) và hoạt động ngoài trời (rèn luyện phản xạ không gian mở).
Chương 2: Thực trạng của việc thiết kế một số tình huống, bài tập phát triển kỹ năng thoát hiểm cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
Chương 2 trình bày kết quả điều tra thực trạng triển khai từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2021 trên mẫu 30 giáo viên và 74 trẻ tại quận Liên Chiểu, Đà Nẵng. Kết quả khảo sát nhận thức của giáo viên phản ánh: phần lớn giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của việc trang bị kỹ năng thoát hiểm cho trẻ, tuy nhiên mức độ và tần suất thiết kế các bài tập tình huống thực tế còn hạn chế.
Nguyên nhân và các khó khăn chính được giáo viên phản ánh bao gồm: áp lực thời gian của chương trình chăm sóc giáo dục hằng ngày, tâm lý lo ngại rủi ro mất an toàn khi cho trẻ tiếp xúc với các bối cảnh giả định nguy hiểm, thiếu thốn đồ dùng, thiết bị chuyên dụng để dàn dựng bối cảnh và hạn chế về tài liệu hướng dẫn quy trình thiết kế tình huống chuẩn mực. Về phía trẻ, kết quả khảo sát đầu vào thông qua hệ thống phiếu tranh ảnh và tình huống giả định cho thấy trẻ thiếu kỹ năng thực hành: trẻ nhận diện được mối nguy hiểm ở mức độ sơ lược nhưng lúng túng, hoảng loạn hoặc đứng yên khi đối diện với tình huống mô phỏng (như phát hiện đám khói, có người lạ lôi kéo hoặc bị nhốt trong không gian kín).
Chương 3: Thiết kế tình huống nhằm phát triển kỹ năng thoát hiểm cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động hằng ngày ở trường mầm non
Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng, tác giả xây dựng hệ thống nguyên tắc, yêu cầu và quy trình thiết kế tình huống, đồng thời đề xuất ngân hàng bài tập tình huống cụ thể tích hợp vào các thời điểm sinh hoạt trong ngày:
| Nhóm nguy cơ |
Tình huống thiết kế cụ thể |
Hoạt động tích hợp |
Mục tiêu thao tác kỹ năng của trẻ |
| Môi trường khẩn cấp |
Chuông báo cháy giả định, khói lan vào lớp học |
Hoạt động học / Hoạt động chơi |
Lấy khăn ẩm che mũi miệng, cúi thấp người men theo tường thoát ra cửa |
| Tai nạn giao thông |
Bị bỏ quên trên xe ô tô đóng kín cửa |
Hoạt động ngoài trời / Trải nghiệm xe |
Bấm còi vô lăng, bật đèn cảnh báo khẩn cấp (hazard), đập kính tìm cứu hộ |
| Xâm hại thân thể |
Người lạ cho quà bánh và kéo đi ở cổng trường |
Giờ đón/trả trẻ, hoạt động chơi góc |
Nói "Không", lùi lại giữ khoảng cách, hét to tìm kiếm sự giúp đỡ của giáo viên |
| Thiên tai & Ngập lụt |
Nước dâng nhanh, mưa bão làm ngập sân trường |
Hoạt động học khám phá khoa học |
Nhanh chóng di chuyển lên vị trí cao, không lội qua dòng nước xoáy |
Quy trình thiết kế tình huống gồm các bước: xác định mục tiêu kỹ năng cần hình thành, lựa chọn bối cảnh thực tế gắn với trường mầm non, chuẩn bị học cụ - đạo cụ mô phỏng an toàn, xây dựng kịch bản có nút thắt cần giải quyết, tổ chức cho trẻ hành động thử nghiệm, và giáo viên nhận xét, củng cố thao tác chuẩn. Tác giả cũng nêu rõ các điều kiện bảo đảm an toàn tâm lý và thể chất cho trẻ trong suốt quá trình triển khai tình huống.
Chương 4: Thực nghiệm một số tình huống, bài tập nhằm phát triển kĩ năng thoát hiểm cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động hằng ngày
Chương 4 kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi của hệ thống tình huống đã thiết kế thông qua thực nghiệm sư phạm. Mẫu 74 trẻ được phân chia thành hai nhóm tương đương: nhóm Thực nghiệm (TN) và nhóm Đối chứng (ĐC) tại các lớp mẫu giáo lớn thuộc Trường Mầm non 1/6.
- Nhóm ĐC: Thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạch thông thường của nhà trường, tiếp cận kỹ năng chủ yếu qua nhắc nhở và bài học lý thuyết.
- Nhóm TN: Được can thiệp bằng hệ thống các tình huống giả định được thiết kế có chủ đích, lồng ghép vào hoạt động học, hoạt động vui chơi và hoạt động ngoài trời theo quy trình tại Chương 3.
Quá trình đo lường được thực hiện ở hai giai đoạn: Trước thực nghiệm (TTN) và Sau thực nghiệm (STT). Kết quả khảo sát được phân tích qua 3 tiêu chí:
- Mức độ nhận biết tình huống có vấn đề và nhận diện mối nguy cơ.
- Mức độ sử dụng chính xác các thao tác kỹ năng thoát hiểm khi gặp tình huống giả định.
- Thời gian trẻ phản xạ và hoàn thành việc xử lý tình huống.
Dữ liệu so sánh giữa hai nhóm trước và sau can thiệp cho thấy mức độ phát triển kỹ năng thoát hiểm của nhóm TN có sự cải thiện rõ rệt so với nhóm ĐC trên cả ba tiêu chí đánh giá, khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đã đặt ra.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp sư phạm cụ thể sau:
- Kết quả thực nghiệm sư phạm: Trước thực nghiệm, cả hai nhóm ĐC và TN đều có mức độ nhận biết và kỹ năng xử lý tình huống thấp, thời gian thao tác kéo dài hoặc thụ động chờ đợi người lớn. Sau quá trình tác động bằng các tình huống giả định, trẻ ở nhóm TN đã thể hiện sự vượt trội so với nhóm ĐC: trẻ nhận biết nhanh dấu hiệu nguy hiểm (khói cháy, chốt cửa xe ô tô, hành vi tiếp cận bất thường của người lạ), thực hiện đúng quy trình thao tác thoát hiểm (cúi thấp người bịt khăn ẩm, di chuyển trật tự, nhấn còi xe, từ chối dứt khoát và kêu cứu), đồng thời rút ngắn đáng kể thời gian phản ứng.
- Giải pháp và kiến nghị sư phạm:
- Đối với Ban Giám hiệu: Cần đưa nội dung rèn luyện kỹ năng thoát hiểm vào kế hoạch năm học; tăng cường đầu tư trang thiết bị, học cụ mô phỏng an toàn; tổ chức các buổi diễn tập quy mô toàn trường; bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên về phương pháp tổ chức tình huống.
- Đối với Giáo viên mầm non: Tích cực lồng ghép các bài tập xử lý tình huống vào chế độ sinh hoạt hằng ngày (hoạt động học, góc chơi, sân trường ngoài trời) thay vì chỉ truyền đạt kiến thức thụ động; thường xuyên quan sát, đánh giá sự tiến bộ của từng cá nhân trẻ; phối hợp chặt chẽ với phụ huynh để thống nhất phương pháp củng cố kỹ năng tại gia đình.
- Đóng góp mới của đề tài: Khóa luận đã khắc phục khoảng trống của các tài liệu trước đây (vốn chỉ dừng lại ở lý luận chung về kỹ năng sống hoặc nêu nguyên tắc khái quát) bằng việc xây dựng quy trình thiết kế và ngân hàng tình huống cụ thể, sát với các sự cố thực tiễn xảy ra tại Việt Nam (như bỏ quên trên ô tô đưa đón, cháy chung cư), đồng thời xác định rõ cách thức tích hợp vào từng khung giờ của chế độ sinh hoạt hằng ngày tại trường mầm non.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Nghiên cứu được triển khai trong phạm vi không gian hạn chế tại một cơ sở trường mầm non công lập (Trường Mầm non 1/6) và lấy ý kiến khảo sát tại Trường Mầm non Họa Mi thuộc quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng; quy mô mẫu 30 giáo viên và 74 trẻ 5 – 6 tuổi chưa bao quát được các loại hình trường tư thục, nhóm trẻ độc lập hoặc các khu vực nông thôn, miền núi có điều kiện cơ sở vật chất khác biệt. Khung thời gian thực hiện ngắn (5 tháng, từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2021) nên chưa đo lường được tính bền vững của kỹ năng khi trẻ bước sang môi trường tiểu học.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu thiết kế tình huống thoát hiểm cho các lứa tuổi nhỏ hơn (trẻ mẫu giáo bé 3 – 4 tuổi và mẫu giáo nhỡ 4 – 5 tuổi); khảo sát trên địa bàn rộng hơn ở các địa phương có nguy cơ thiên tai đặc thù (lũ lụt vùng duyên hải, sạt lở miền núi); xây dựng cẩm nang video hoặc học liệu số hóa mô phỏng tình huống 3D để hỗ trợ giáo viên mầm non tổ chức hoạt động.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu chuyên khảo ứng dụng có giá trị cho các nhóm độc giả:
- Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Cung cấp mẫu cấu trúc chuẩn mực của một khóa luận thực nghiệm sư phạm mầm non, hệ thống hóa bảng biểu chế độ sinh hoạt và phương pháp thiết kế phiếu điều tra Anket, phiếu hình ảnh dành cho trẻ nhỏ.
- Giáo viên mầm non đang trực tiếp giảng dạy: Có thể sử dụng trực tiếp ngân hàng tình huống và quy trình tổ chức bài tập trong Chương 3 để triển khai trong các tiết học khám phá xã hội, hoạt động chơi phân vai hoặc giờ sinh hoạt ngoài trời.
- Cán bộ quản lý trường mầm non: Cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng kế hoạch tập huấn chuyên môn, tổ chức diễn tập ứng phó sự cố khẩn cấp và cải thiện tiêu chí an toàn học đường.
Câu hỏi thường gặp
Đề tài chia hệ thống kỹ năng thoát hiểm cho trẻ 5 – 6 tuổi thành những nhóm cụ thể nào?
Khóa luận chia thành 4 nhóm chính: (1) Nhóm thoát hiểm khỏi môi trường hoảng loạn khẩn cấp (cháy nổ, hỏa hoạn, chen lấn xô đẩy); (2) Nhóm thoát hiểm khỏi thiên tai (ngập lụt, sạt lở đất, động đất); (3) Nhóm thoát khỏi tai nạn (phòng chống đuối nước, kỹ năng khi bị kẹt trong xe ô tô); (4) Nhóm thoát hiểm khi bị xâm hại cơ thể (phòng chống bắt cóc, xâm hại thân thể, đối phó khi gặp người lạ, kỹ năng khi bị bắt nạt và tống tiền).
Tác giả căn cứ vào số liệu thực tiễn nào về tai nạn thương tích ở trẻ em để chọn đề tài?
Tác giả dẫn số liệu của WHO với hơn 900.000 trẻ em và vị thành niên tử vong mỗi năm do thương tích trên toàn cầu (90% không chủ ý). Tại Việt Nam, thống kê của Cục Quản lý Môi trường ghi nhận hơn 370.000 trẻ bị tai nạn thương tích/năm, trong đó nhóm 15–19 tuổi chiếm 43%, nhóm 5–14 tuổi chiếm 36,9% và nhóm 0–4 tuổi chiếm 19,5%. Đề tài cũng trích dẫn trực tiếp các vụ việc học sinh tử vong do bị bỏ quên trên xe đưa đón ở trường Gateway và cơ sở Đồ Rê Mí, cùng vụ cháy chung cư Carina Plaza.
Khóa luận phân loại tình huống sư phạm thành những dạng nào?
Dựa trên lý luận sư phạm, văn bản phân chia tình huống thành 6 dạng theo cấp độ phức tạp: tình huống chứng minh, tình huống mô tả, tình huống đề cập tới một vụ việc, tình huống nêu ra vấn đề phải giải quyết, tình huống có tính chất tổng hợp, và tình huống có tính chất tham gia trình diễn.
Quy mô mẫu và địa bàn khảo sát, thực nghiệm của khóa luận được tổ chức ở đâu?
Đề tài khảo sát nhận thức trên 30 giáo viên mầm non tại Trường Mầm non 1/6 và lấy ý kiến tại Trường Mầm non Họa Mi thuộc quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng; khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm can thiệp trên 74 trẻ 5 – 6 tuổi thuộc hai lớp mẫu giáo lớn (lớp Lớn 1 và Lớp Lớn 2) tại Trường Mầm non 1/6 trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2021.
Thực nghiệm sư phạm đánh giá sự phát triển kỹ năng của trẻ qua những tiêu chí nào?
Kết quả thực nghiệm đối chứng được đo lường qua 3 tiêu chí: (1) Khả năng nhận biết tình huống có vấn đề và biết sử dụng kỹ năng để giải quyết; (2) Mức độ chính xác khi vận dụng các kỹ năng thoát hiểm vào giải quyết vấn đề giả định; (3) Thời gian trẻ thực hiện việc xử lý và thoát khỏi tình huống nguy hiểm giả định.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Thị Loan đã hoàn thành trọn vẹn mục tiêu lý luận và thực tiễn về việc phát triển kỹ năng thoát hiểm cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non. Thông qua việc phân tích đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và khảo sát thực trạng tại quận Liên Chiểu, Đà Nẵng, tác giả đã xây dựng hệ thống tình huống bám sát các nguy cơ đời sống thực tế và lồng ghép phù hợp vào chế độ sinh hoạt hằng ngày. Kết quả thực nghiệm sư phạm trên 74 trẻ khẳng định phương pháp tổ chức tình huống giúp nâng cao rõ rệt nhận thức nguy cơ, thao tác xử lý và tốc độ phản xạ tự bảo vệ của trẻ. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn cao cho công tác đào tạo giáo viên mầm non và đổi mới phương pháp giáo dục kỹ năng sống trong các nhà trường hiện nay.