Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: “Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở khu vực miền núi phía Bắc”.
- Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục mầm non).
- Hướng tiếp cận nghiên cứu: Hỗn hợp (kết hợp nghiên cứu lý luận, điều tra khảo sát thực trạng bằng bảng hỏi, phỏng vấn, quan sát sư phạm và thực nghiệm sư phạm kiểm chứng, xử lý dữ liệu bằng thống kê toán học).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Giao tiếp là nhu cầu thiết yếu, là công cụ trao đổi thông tin, cảm xúc và tương tác xã hội của con người. Đối với lứa tuổi mầm non, đặc biệt là giai đoạn 5-6 tuổi, việc hình thành và phát triển kĩ năng giao tiếp là một trong những mục tiêu trọng tâm nhằm chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1. Hoạt động vui chơi giữ vai trò chủ đạo ở lứa tuổi mẫu giáo, trong đó trò chơi đóng vai theo chủ đề tạo ra môi trường trải nghiệm giả định giúp trẻ thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội của người lớn, từ đó hình thành nhân cách và rèn luyện kĩ năng giao tiếp.
Tại các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, công tác giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi còn gặp nhiều khó khăn, bất cập do điều kiện cơ sở vật chất, môi trường hoạt động còn hạn chế, đối tượng học sinh phần lớn là con em đồng bào dân tộc thiểu số và năng lực thiết kế, tổ chức hoạt động của giáo viên chưa khai thác hết ưu thế của trò chơi đóng vai theo chủ đề. Mặt khác, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề tại địa bàn đặc thù này.
Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề, luận án đề xuất quy trình và các biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non.
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề với giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non nhằm xác lập quy trình và các biện pháp tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề để nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc.
Giả thuyết khoa học
Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là nhiệm vụ quan trọng trong chương trình giáo dục mầm non để giúp trẻ thích ứng với cuộc sống và chuẩn bị vào lớp 1. Thực tiễn giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề còn nhiều hạn chế do khó khăn về môi trường hoạt động, đặc điểm học sinh phần lớn là con em đồng bào dân tộc thiểu số, và năng lực thiết kế, tổ chức hoạt động của giáo viên. Nếu xác lập được quy trình và biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề hợp lý để áp dụng vào thực tiễn thì sẽ nâng cao được chất lượng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở khu vực miền núi phía Bắc hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận của giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam.
- Đề xuất quy trình và biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam.
- Thực nghiệm kiểm chứng quy trình và các biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề.
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu các kĩ năng giao tiếp cơ bản bằng ngôn ngữ tiếng Việt cần giáo dục cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề, dựa trên Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi, gồm:
- Kĩ năng nghe hiểu lời nói trong trò chơi đóng vai theo chủ đề.
- Kĩ năng biểu đạt lời nói để giao tiếp trong trò chơi đóng vai theo chủ đề.
- Kĩ năng thực hiện quy tắc giao tiếp trong trò chơi đóng vai theo chủ đề.
- Phạm vi không gian (Địa bàn khảo sát): 14 trường mầm non khu vực nông thôn miền núi phía Bắc thuộc 06 tỉnh: Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hòa Bình, Quảng Ninh, Lạng Sơn.
- Khách thể khảo sát: 314 giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục mầm non; 193 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba hướng chính:
1. Hướng nghiên cứu về giao tiếp
- Tài liệu quốc tế:
- Ludwig Andreas Feuerbach (1804–1872) khẳng định bản chất con người chỉ thể hiện trong giao tiếp.
- I.P. Pavlov (1849–1936) nghiên cứu công cụ giao tiếp là ngôn ngữ, chỉ ra sự khác biệt giữa người và động vật qua hệ thống tín hiệu thứ hai.
- Karl Marx (1884) và V.I. Lenin xem giao tiếp là khí quan xã hội, phương thức con người tham gia vào các hình thái xã hội và thiết lập quan hệ liên nhân cách.
- G.H. Mead (1863–1931) nhấn mạnh vai trò của giao tiếp trong sự hình thành "cái tôi" và phát triển nhân cách.
- Tài liệu trong nước:
- Nguyễn Thạc và Hoàng Anh (1991) nghiên cứu về giao tiếp sư phạm.
- Nguyễn Văn Lê (1999), Trần Trọng Thủy và Nguyễn Sinh (2006), Nguyễn Bá Minh (2012) nghiên cứu về bản chất, phương tiện và các quy tắc giao tiếp.
- Trần Văn Phòng và Ngô Thị Nụ (2015) nghiên cứu quan điểm của Trần Đức Thảo về mối quan hệ cá nhân và xã hội qua giao tiếp.
- Hà Thế Ngữ (2001) làm rõ hai mặt hoạt động và giao lưu trong quá trình hình thành cá nhân.
- Phùng Thị Hằng (2006) nghiên cứu đặc điểm giao tiếp của học sinh phổ thông dân tộc nội trú khu vực Đông Bắc.
2. Hướng nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp và giáo dục kĩ năng giao tiếp
- Tài liệu quốc tế:
- K.D. Ushinsky (1950) khẳng định việc nắm ngôn ngữ mẹ đẻ ở tuổi mẫu giáo là chỉ số chuẩn bị cho trẻ học phổ thông.
- A. Toffler với "Cú sốc của tương lai", J. Delors với "Học tập - một kho báu tiềm ẩn" và Diễn đàn Giáo dục cho mọi người tại Dakar (Senegal, 2000) nhấn mạnh giáo dục kĩ năng sống và kĩ năng giao tiếp.
- M.I. Lisina (1974) nghiên cứu sự phát triển giao tiếp ở trẻ mầm non.
- A.G. Ruzskaya nghiên cứu hành vi trẻ mầm non dưới tác động ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.
- L.S. Vygotsky (1960) trong "Sự phát triển các chức năng tâm lý cao cấp" và B.F. Lomov (1981) khẳng định quá trình hình thành kĩ năng giao tiếp qua lĩnh hội và thực hành.
- Kak-Hai-Nowdich (1990), Linda Maget nghiên cứu phát triển ngôn ngữ và vai trò của cha mẹ.
- V.P. Zakharov xây dựng trắc nghiệm thăm dò 8 kĩ năng trong các pha giao tiếp (thiết lập quan hệ, cân bằng nhu cầu, lắng nghe, tự chủ cảm xúc, tự kiềm chế, diễn đạt mạch lạc, linh hoạt, điều khiển quá trình giao tiếp).
- Chương trình High-Scope (Mỹ, 2004) tiếp cận học tập chủ động, đánh giá trẻ qua 58 chỉ số KDis, chú trọng ngôn ngữ và giao tiếp.
- Tài liệu trong nước:
- Ngô Công Hoàn (1992, 1997), Hoàng Anh / Hoàng Thị Anh (1992, 2004), Lê Xuân Hồng và Vũ Thị Ngân (1994), Lê Xuân Hồng (2000) nghiên cứu giao tiếp sư phạm mầm non.
- Nguyễn Thị Oanh (2000), Hoàng Thị Phương (2003), Chu Văn Đức (2005) nghiên cứu hành vi giao tiếp văn hóa và vai trò ngôn ngữ ở trẻ nhỏ.
- Nguyễn Thanh Bình (2005, 2009) nghiên cứu kĩ năng sống và kĩ năng giao tiếp ở học sinh phổ thông.
- Nguyễn Văn Lũy và Trần Thị Tuyết Hoa (2006) phân tích giao tiếp thỏa mãn nhu cầu của trẻ.
- Nguyễn Thị Tính (2009), Ngô Giang Nam (2013) nghiên cứu giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học miền núi phía Bắc.
- Nguyễn Hữu Độ (2010) biên soạn tài liệu giáo dục nếp sống thanh lịch cho học sinh Hà Nội.
- Nguyễn Thị Thanh (2014) nghiên cứu biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ 3-4 tuổi.
3. Hướng nghiên cứu về giáo dục kĩ năng giao tiếp qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
- Tài liệu quốc tế:
- Friedrich Froebel (1782–1852) khởi xướng kết hợp dạy học với trò chơi.
- A.N. Leontiev, L.S. Vygotsky khẳng định trò chơi đóng vai định hình hành vi và giao tiếp của trẻ mẫu giáo.
- A.P. Usova (1977) phân tích trò chơi tạo thành "xã hội trẻ em" và chỉ rõ hai mối quan hệ: quan hệ thực và quan hệ chơi.
- Miriam Stoppard (1993), Pere Klerman, Diana Courson và Claissa Wallase (2010), cùng các Chương trình Giáo dục Mầm non Bắc Ireland (1997) và bang California (2010) đều ghi nhận trò chơi là phương tiện then chốt phát triển kĩ năng giao tiếp.
- Tài liệu trong nước:
- Nguyễn Ánh Tuyết (1987, 1988, 2011) nghiên cứu về vai trò nhóm bạn bè và trò chơi đóng vai theo chủ đề.
- Lê Xuân Hồng (1996) nghiên cứu giao tiếp trong nhóm chơi không cùng độ tuổi.
- Nguyễn Xuân Thức (1997) nghiên cứu tính tích cực giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động chơi.
- Phạm Thị Thu Thủy (2016) nghiên cứu trường hợp kĩ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi tại Tuyên Quang.
- Nguyễn Thị Thu Hà (2016) nghiên cứu giáo dục kĩ năng giao tiếp theo tiếp cận hợp tác.
- Nguyễn Thị Phấn (2017) nghiên cứu phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi tại Tuy Hòa, Phú Yên.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào kĩ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên, giáo dục kĩ năng cho học sinh phổ thông, hoặc nghiên cứu trẻ mầm non ở diện hẹp (trẻ tự kỷ, trẻ 3-4 tuổi, hoặc khảo sát tại một địa phương đơn lẻ). Luận án giải quyết khoảng trống: Nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về quy trình và các biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề tại địa bàn đặc thù là 14 trường mầm non thuộc 6 tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Khung lý thuyết và quan điểm tiếp cận
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các quan điểm phương pháp luận:
- Quan điểm hệ thống cấu trúc: Đặt giáo dục kĩ năng giao tiếp gắn liền với mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục mầm non.
- Quan điểm thực tiễn: Gắn với đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ 5-6 tuổi và điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa các trường mầm non miền núi phía Bắc.
- Quan điểm tiếp cận hoạt động - nhân cách: Xem hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo hình thành nhân cách và kĩ năng xã hội cho trẻ.
- Quan điểm tiếp cận Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi: Dựa vào Thông tư quy định Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi (gồm 4 lĩnh vực, 28 chuẩn, 120 chỉ số) để xác định mục tiêu, nội dung và tiêu chí đánh giá.
- Quan điểm giáo dục kĩ năng sống: Xem kĩ năng giao tiếp là kĩ năng sống nền tảng.
- Cơ sở sinh lý học thần kinh cấp cao: Dựa trên học thuyết của I.P. Pavlov về hệ thống tín hiệu thứ nhất (sự vật trực quan) và hệ thống tín hiệu thứ hai (tiếng nói, chữ viết - tư duy trừu tượng) cùng cơ chế phản xạ có điều kiện trong việc hình thành lời nói.
2. Hệ thống khái niệm công cụ do luận án xác lập
| Khái niệm công cụ |
Định nghĩa do tác giả luận án lựa chọn và xác lập |
| Kĩ năng |
Những thao tác, hành động có tính thuần thục trong sử dụng các phương tiện để tác động đến đối tượng hành động nhằm đạt được mục đích nhất định. |
| Giao tiếp |
Quá trình tác động qua lại, trao đổi thông tin, ảnh hưởng, nhận biết lẫn nhau của con người với con người bằng phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. |
| Kĩ năng giao tiếp |
Những thao tác, hành động có tính thuần thục của chủ thể để giải quyết nhiệm vụ giao tiếp dựa trên sự lựa chọn và vận dụng tri thức, cách thức sử dụng phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ tác động đến đối tượng nhằm đạt mục đích nhất định. |
| Kĩ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi |
Những thao tác, hành động mang tính thuần thục trong việc sử dụng phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của trẻ để tác động đến đối tượng giao tiếp nhằm đạt mục đích nhất định (gồm: nghe hiểu, biểu đạt, thực hiện quy tắc). |
| Trò chơi đóng vai theo chủ đề |
Loại trò chơi mà trẻ mô phỏng lại một mảng của cuộc sống người lớn bằng cách nhập vào một nhân vật để thực hiện chức năng xã hội của nhân vật đó. |
| Giáo dục KNGT qua trò chơi đóng vai theo chủ đề |
Quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch dưới vai trò chủ đạo của giáo viên mầm non trong tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề nhằm giúp trẻ hình thành, phát triển các thao tác, hành động thuần thục trong sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để đóng vai, thực hiện chức năng xã hội và mô phỏng cuộc sống. |
3. Tiêu chí nội dung kĩ năng giao tiếp dựa trên Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi
| Nhóm kĩ năng |
Nội dung cụ thể và các chỉ số chuẩn |
| 1. Kĩ năng nghe hiểu lời nói |
- Nhận biết sắc thái biểu cảm trong lời nói của bạn chơi khi vui, buồn, tức giận, lo lắng. - Thực hiện các chỉ dẫn liên quan đến vai chơi và hành động chơi. - Hiểu nghĩa từ ngữ chuyên biệt theo từng chủ đề chơi. - Nghe hiểu các tình huống xảy ra trong khi chơi. |
| 2. Kĩ năng biểu đạt lời nói |
- Chỉ số 66: Sử dụng từ chỉ tên gọi, hành động, tính chất, từ biểu cảm. - Chỉ số 67: Sử dụng các loại câu khác nhau trong giao tiếp. - Chỉ số 68: Sử dụng lời nói bày tỏ cảm xúc, nhu cầu, ý nghĩ, kinh nghiệm. - Chỉ số 69: Sử dụng lời nói trao đổi, chỉ dẫn bạn bè trong hoạt động. - Chỉ số 70, 71: Kể về sự việc, hiện tượng; kể lại chuyện đã nghe theo trình tự. - Chỉ số 72: Khởi xướng cuộc trò chuyện, thỏa thuận vai chơi. |
| 3. Kĩ năng thực hiện quy tắc giao tiếp |
- Chỉ số 73: Điều chỉnh giọng nói phù hợp với tình huống giao tiếp. - Chỉ số 74: Chăm chú lắng nghe, đáp lại bằng cử chỉ, nét mặt, ánh mắt phù hợp. - Chỉ số 75: Không nói leo, không ngắt lời người khác khi trò chuyện. - Chỉ số 76: Hỏi lại hoặc biểu hiện cử chỉ khi không hiểu người khác nói. - Chỉ số 77: Sử dụng từ chào hỏi, lễ phép phù hợp tình huống. - Chỉ số 78: Không nói tục, chửi bậy trong khi chơi. |
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa tài liệu lý luận trong nước và quốc tế.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: Quan sát hành vi, ngôn ngữ, cử chỉ của trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề và hoạt động sư phạm của giáo viên.
- Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu hỏi đối với 314 cán bộ quản lý và giáo viên mầm non; phỏng vấn sâu giáo viên và cán bộ quản lý về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm kiểm chứng quy trình và các biện pháp sư phạm trên đối tượng trẻ 5-6 tuổi tại địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp bổ trợ: Xử lý số liệu khảo sát và thực nghiệm bằng thống kê toán học với phần mềm SPSS 20.0.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận của đề tài với các luận điểm chính:
- Đặc điểm giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi: Ở giai đoạn này, trẻ mở rộng quan hệ xã hội, ngôn ngữ phát triển vượt bậc và trở thành phương tiện nhận thức chủ yếu. Trẻ hình thành kĩ năng định hướng (quan sát cảm xúc đối tượng), kĩ năng định vị (biết đặt mình vào vị trí người khác để đồng cảm) và bước đầu biết điều chỉnh, điều khiển hành vi giao tiếp. Tuy nhiên, giao tiếp của trẻ vẫn mang tính cảm tính, chịu ảnh hưởng lớn từ vốn sống và cảm xúc cá nhân.
- Ưu thế của trò chơi đóng vai theo chủ đề:
- Trò chơi có cấu trúc gồm: chủ đề chơi, nội dung chơi, vai chơi, hành động chơi và đồ chơi thay thế.
- Trò chơi vận hành qua hai mối quan hệ song song: quan hệ thực (quan hệ giữa các bạn cùng chơi khi bàn bạc, thỏa thuận) và quan hệ chơi (quan hệ giả định giữa các nhân vật). Khi trẻ nhập vai tốt, quan hệ chơi chiếm ưu thế, xung đột thực giảm đi, tạo môi trường tự nhiên để trẻ rèn luyện ngôn ngữ và quy tắc ứng xử.
- Phương pháp và hình thức giáo dục: Luận án phân tích các phương pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp (phương pháp dùng lời, phương pháp trực quan, phương pháp thực hành, phương pháp tạo tình huống giáo dục, phương pháp động viên khích lệ, phương pháp tổ chức trò chơi) qua các hình thức sinh hoạt ở trường mầm non (đón/trả trẻ, hoạt động học có chủ đích, hoạt động ngoài trời, tham quan trải nghiệm, ngày hội ngày lễ và trọng tâm là hoạt động vui chơi).
- Quy trình hoạt động giáo dục hiện hành: Phân tích mô hình 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 - Thiết kế hoạt động: Xác định mục đích yêu cầu; Chuẩn bị cơ sở vật chất; Lập tiến trình (Tạo hứng thú -> Trọng tâm -> Kết thúc).
- Giai đoạn 2 - Tổ chức thực hiện: Triển khai theo tiến trình thiết kế, linh hoạt xử lý tình huống sư phạm.
- Giai đoạn 3 - Đánh giá và rút kinh nghiệm: Đánh giá cuối ngày và đánh giá theo giai đoạn phát triển.
Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực tiễn tại 14 trường mầm non thuộc 6 tỉnh (Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hòa Bình, Quảng Ninh, Lạng Sơn) trên mẫu 314 cán bộ quản lý, giáo viên và 193 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi:
- Thực trạng kĩ năng giao tiếp của trẻ: Trẻ 5-6 tuổi khu vực miền núi phía Bắc đã hình thành một số kĩ năng nghe hiểu và quy tắc thông thường, nhưng kĩ năng biểu đạt bằng tiếng Việt, khả năng sử dụng câu phức, sự chủ động khởi xướng cuộc thoại và khả năng xử lý tình huống giao tiếp khi nhập vai còn hạn chế do rào cản ngôn ngữ mẹ đẻ (tiếng dân tộc thiểu số) và sự thiếu hụt vốn từ tiếng Việt.
- Thực trạng hoạt động giáo dục của giáo viên: Giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng giao tiếp nhưng việc tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề còn mang tính hình thức, áp đặt, thiếu tình huống có vấn đề để kích thích trẻ giao tiếp; chưa thiết lập được hệ thống chủ đề chơi gần gũi với bản sắc văn hóa và đời sống địa phương vùng cao.
- Yếu tố ảnh hưởng: Môi trường vật chất, đồ dùng đồ chơi còn thiếu thốn; sự bất đồng ngôn ngữ; trình độ chuyên môn và kĩ năng tổ chức trò chơi đóng vai của giáo viên chưa đồng đều.
Chương 3: Quy trình và biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc
Chương 3 đề xuất các giải pháp sư phạm và kết quả kiểm chứng:
- Xác lập quy trình giáo dục kĩ năng giao tiếp qua trò chơi đóng vai theo chủ đề: Hoàn thiện quy trình tổ chức hoạt động chơi gồm các bước chặt chẽ từ chuẩn bị môi trường, gợi ý chủ đề, phân vai, hướng dẫn hành động chơi, điều khiển mối quan hệ chơi và đánh giá sau khi chơi.
- Hệ thống biện pháp sư phạm đề xuất:
- Thiết lập hệ thống trò chơi đóng vai theo chủ đề chiếm ưu thế, phù hợp với đặc điểm văn hóa, xã hội vùng miền núi phía Bắc.
- Biện pháp bồi dưỡng vốn từ tiếng Việt và tạo môi trường giao tiếp đa dạng trong trò chơi.
- Biện pháp tạo tình huống giao tiếp mang tính có vấn đề để kích thích trẻ tương tác, đàm thoại và giải quyết nhiệm vụ chơi.
- Biện pháp hướng dẫn trẻ thực hiện các quy tắc giao tiếp và luân phiên vai chơi.
- Biện pháp phối hợp giữa nhà trường, giáo viên và gia đình trong việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho trẻ.
- Kết quả thực nghiệm sư phạm: Kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của quy trình cùng các biện pháp trên nhóm trẻ thực nghiệm so với nhóm đối chứng, khẳng định sự cải thiện rõ rệt về kĩ năng nghe hiểu, kĩ năng biểu đạt và kĩ năng thực hiện quy tắc giao tiếp bằng tiếng Việt của trẻ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Góp phần phát triển hệ thống lý luận về giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mầm non tại Việt Nam.
- Phát triển lý luận giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi dựa trên cách tiếp cận nhân cách - hoạt động, giáo dục kĩ năng sống và Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi.
- Làm rõ tính ưu thế đặc thù của trò chơi đóng vai theo chủ đề (cấu trúc vai chơi, hành động chơi, sự đan xen giữa quan hệ thực và quan hệ chơi) trong việc phát triển ngôn ngữ và kĩ năng xã hội cho trẻ.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện thực trạng kĩ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi và thực trạng tổ chức giáo dục kĩ năng giao tiếp của giáo viên tại 14 trường mầm non thuộc 6 tỉnh miền núi phía Bắc.
- Thiết lập hệ thống trò chơi đóng vai theo chủ đề chiếm ưu thế, có tính đến đặc thù vùng miền nông thôn, miền núi phía Bắc.
- Xác lập quy trình và hệ thống biện pháp tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề có tính khả thi, áp dụng trực tiếp tại các trường mầm non khu vực miền núi phía Bắc.
- Cung cấp tài liệu tham khảo khoa học phục vụ nghiên cứu, giảng dạy học phần Giáo dục học mầm non và bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với các cơ quan quản lý giáo dục: Đầu tư cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi cho các trường mầm non vùng khó khăn; tổ chức các lớp tập huấn chuyên đề về kĩ năng tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề và giáo dục kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số.
- Đối với giáo viên mầm non: Linh hoạt áp dụng quy trình và biện pháp do luận án đề xuất; chủ động xây dựng các tình huống giao tiếp, tăng cường phương pháp động viên khích lệ và tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm nhiều vai chơi khác nhau.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm chỉ giới hạn tại 14 trường mầm non nông thôn thuộc 6 tỉnh miền núi phía Bắc (Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hòa Bình, Quảng Ninh, Lạng Sơn).
- Khách thể nghiên cứu tập trung vào trẻ 5-6 tuổi và kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt, chưa đi sâu vào giao tiếp song ngữ hoặc các độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo bé (3-4 tuổi), mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu quy trình và biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp qua các loại hình trò chơi khác (trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò chơi dân gian).
- Nghiên cứu giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mầm non ở các khu vực địa lý đặc thù khác như Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long hoặc các vùng hải đảo.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận tiếp cận Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi, khung lý thuyết về trò chơi đóng vai theo chủ đề và cấu trúc thang đo kĩ năng giao tiếp.
- Đối với giảng viên các trường sư phạm: Sử dụng trong giảng dạy các học phần Lý luận và phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non, Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non.
- Đối với cán bộ quản lý và giáo viên mầm non (đặc biệt tại khu vực miền núi, dân tộc thiểu số): Tham khảo trực tiếp quy trình 3 giai đoạn và hệ thống biện pháp tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề để nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi trước khi vào lớp 1.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định kĩ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi gồm những nhóm kĩ năng cụ thể nào?
Dựa trên Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi, luận án xác định 3 nhóm kĩ năng cơ bản bằng tiếng Việt:
- Kĩ năng nghe hiểu lời nói trong trò chơi đóng vai theo chủ đề (nhận biết sắc thái cảm xúc, hiểu chỉ dẫn vai chơi, hiểu từ ngữ chuyên biệt, hiểu tình huống chơi).
- Kĩ năng biểu đạt lời nói trong trò chơi đóng vai theo chủ đề (sử dụng từ ngữ chuyên biệt, dùng câu đơn/câu phức, biểu đạt cảm xúc/nhu cầu, kể lại sự việc, khởi xướng cuộc thoại và chỉ dẫn bạn chơi).
- Kĩ năng thực hiện quy tắc giao tiếp trong trò chơi đóng vai theo chủ đề (điều chỉnh âm lượng giọng nói, lắng nghe không ngắt lời, dùng từ chào hỏi lễ phép, không nói tục chửi bậy, phản hồi bằng cử chỉ/điệu bộ phù hợp).
2. Quy mô mẫu khảo sát thực trạng và địa bàn nghiên cứu của luận án được thực hiện ở đâu?
Khảo sát thực trạng được triển khai tại 14 trường mầm non khu vực nông thôn miền núi phía Bắc thuộc 06 tỉnh: Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hòa Bình, Quảng Ninh, Lạng Sơn. Mẫu khảo sát gồm 314 cán bộ quản lý và giáo viên mầm non, cùng 193 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0.
3. Tại sao trò chơi đóng vai theo chủ đề lại chiếm ưu thế trong việc giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi?
Trò chơi đóng vai theo chủ đề là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo. Ưu thế của trò chơi nằm ở chỗ: trẻ mô phỏng cuộc sống người lớn thông qua việc nhập vai và hành động theo vai trong các hoàn cảnh giả định. Quá trình này làm nảy sinh đồng thời hai mối quan hệ: quan hệ thực (thỏa thuận chủ đề, phân vai, chọn đồ chơi) và quan hệ chơi (tương tác, đối thoại theo chức năng xã hội của vai diễn). Đây là môi trường tự nhiên giúp trẻ trải nghiệm, hợp tác và rèn luyện kĩ năng sử dụng phương tiện ngôn ngữ lẫn phi ngôn ngữ.
4. Quy trình giáo dục kĩ năng giao tiếp lồng ghép trong hoạt động giáo dục mầm non gồm những giai đoạn nào?
Quy trình gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 - Thiết kế hoạt động: Xác định mục đích yêu cầu (kiến thức, kĩ năng, thái độ); Chuẩn bị cơ sở vật chất; Xây dựng tiến trình (Tạo hứng thú -> Trọng tâm -> Kết thúc/củng cố).
- Giai đoạn 2 - Tổ chức thực hiện: Triển khai hoạt động trên trẻ theo 3 bước (Tạo hứng thú -> Hoạt động trọng tâm -> Kết thúc củng cố), kết hợp xử lý linh hoạt các tình huống sư phạm.
- Giai đoạn 3 - Đánh giá và rút kinh nghiệm: Đánh giá cuối ngày (sức khỏe, cảm xúc/hành vi, kiến thức/kĩ năng của trẻ) và đánh giá theo giai đoạn phát triển (cuối chủ đề, cuối độ tuổi).
Kết luận
Luận án đã giải quyết một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề tại 14 trường mầm non thuộc 6 tỉnh miền núi phía Bắc. Bằng việc phối hợp các phương pháp điều tra trên 314 cán bộ quản lý/giáo viên, 193 trẻ và thực nghiệm sư phạm, tác giả đã làm rõ thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và tính ưu thế của hoạt động đóng vai theo chủ đề đối với sự phát triển nhân cách của trẻ. Quy trình và các biện pháp sư phạm do luận án xác lập dựa trên Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi cung cấp giải pháp thiết thực nhằm nâng cao năng lực giao tiếp tiếng Việt cho trẻ em vùng cao, chuẩn bị tâm thế vững chắc cho trẻ bước vào lớp 1.