Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài "Phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thắm thực hiện tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Minh Mục và PGS.TS Nguyễn Xuân Hải, thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục (năm 2021).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo Báo cáo kết quả Điều tra quốc gia về người khuyết tật Việt Nam năm 2016-2017 của Tổng cục Thống kê (công bố tháng 11/2018), trẻ em khuyết tật từ 2 đến 17 tuổi chiếm 2,79% tổng dân số trẻ em (trong đó lứa tuổi 2-4 chiếm 2,74%, lứa tuổi 5-17 chiếm 2,81%; trẻ nam chiếm 3,00% và trẻ nữ chiếm 2,57%). Tỉ lệ khuyết tật theo chức năng ghi nhận: nhìn 0,15%, nghe 0,22%, nhận thức 0,74%, đa tật 0,78%, giao tiếp 0,62% và khuyết tật thần kinh chiếm 2,21%. Trên thế giới, các công trình của Gates & Kappan (1985), Klein (2000), Rogow (1998) chỉ ra khoảng 49% đến 60% trẻ khiếm thị có kèm theo các dạng khuyết tật khác, trong đó có rối loạn phổ tự kỉ (RLPTK).

Đối với trẻ 5-6 tuổi chuẩn bị chuyển cấp sang bậc tiểu học, kĩ năng giao tiếp (KNGT) giữ vai trò then chốt đối với quá trình hòa nhập. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa tổn thương thị giác và khiếm khuyết trong tương tác xã hội của RLPTK khiến trẻ gặp trở ngại nghiêm trọng: thiếu tiếp xúc mắt - mắt, hạn chế sử dụng cử chỉ điệu bộ, nghèo nàn trong biểu đạt và thấu hiểu cảm xúc, xuất hiện nhiều hành vi định hình (lắc lư, vẫy tay, chọc tay vào mắt, tự xâm hại). Mặc dù can thiệp sớm tại Việt Nam đã hình thành từ năm 1991 và có sự hỗ trợ của Trường Perkins (Hoa Kỳ) từ năm 2015 trong việc tập huấn can thiệp trẻ khiếm thị đa tật, các nghiên cứu chuyên sâu về phát triển KNGT cho trẻ khiếm thị kèm RLPTK 5-6 tuổi thông qua hoạt động chơi ở Việt Nam vẫn còn rất ít, thiếu tính hệ thống và chưa có khung biện pháp sư phạm cụ thể.

Mục tiêu, nhiệm vụ và giả thuyết nghiên cứu

  1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng KNGT cũng như quá trình phát triển KNGT cho trẻ khiếm thị kèm RLPTK 5-6 tuổi, đề xuất và thực nghiệm các biện pháp phát triển KNGT cho nhóm trẻ này thông qua hoạt động chơi nhằm tăng cường khả năng hòa nhập xã hội.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Nhiệm vụ 1: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đặc điểm KNGT và quá trình phát triển KNGT cho trẻ khiếm thị kèm RLPTK 5-6 tuổi thông qua chơi.
    • Nhiệm vụ 2: Khảo sát, đánh giá thực trạng mức độ KNGT của trẻ và thực trạng phát triển KNGT cho trẻ khiếm thị kèm RLPTK 5-6 tuổi thông qua chơi tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt.
    • Nhiệm vụ 3: Xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm phát triển KNGT thông qua chơi và tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
  3. Giả thuyết khoa học: Kĩ năng giao tiếp của trẻ khiếm thị kèm RLPTK 5-6 tuổi còn nhiều hạn chế và hoạt động can thiệp nhóm trẻ này gặp nhiều khó khăn. Nếu xây dựng và thực hiện được hệ thống biện pháp phát triển KNGT thông qua chơi phù hợp với khả năng, nhu cầu, đặc điểm mức độ KNGT của trẻ và điều kiện thực tiễn của cơ sở giáo dục thì sẽ giúp trẻ hình thành và nâng cao các KNGT cần thiết.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Kĩ năng giao tiếp của trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào 06 nhóm KNGT:
    • (i) Nhóm kĩ năng tập trung chú ý và lắng nghe;
    • (ii) Nhóm kĩ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp để thể hiện nhu cầu bản thân;
    • (iii) Nhóm kĩ năng hiểu và cung cấp thêm thông tin;
    • (iv) Nhóm kĩ năng kiểm soát cảm xúc;
    • (v) Nhóm kĩ năng luân phiên, tương tác và hòa nhập trong nhóm;
    • (vi) Nhóm kĩ năng xác định và điều chỉnh khoảng cách, tư thế khi giao tiếp.
  • Phạm vi khách thể khảo sát và thực nghiệm: Khảo sát trên 30 trẻ khiếm thị kèm RLPTK 5-6 tuổi (nhóm trẻ mù kèm RLPTK mức độ nhẹ và trung bình); 60 cán bộ quản lý (CBQL) và giáo viên (GV). Thực nghiệm sư phạm tiến hành trên 03 trường hợp trẻ nghiên cứu điển hình.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Địa bàn nghiên cứu gồm các trung tâm can thiệp, trường chuyên biệt, trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tại 08 tỉnh/thành phố: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Lâm Đồng (Đà Lạt), Hải Phòng, Khánh Hòa (Nha Trang), Bắc Ninh, Đồng Nai. Thời gian thực hiện từ tháng 01/2018 đến tháng 11/2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã phân chia tổng quan nghiên cứu quốc tế và trong nước theo ba nhóm chủ đề chính:

Các hướng nghiên cứu về giáo dục trẻ khiếm thị đa tật và trẻ khiếm thị kèm RLPTK

  • Nghiên cứu quốc tế: Khái niệm trẻ đa tật và trẻ khiếm thị kèm các tật khác được xây dựng từ các nghiên cứu của McInnes & Treffry (1982), Ann Silverrain (1984), Gates & Kappan (1985), Corn & Koenig (1996), Mastropieri & Scruggs (2014). Tỉ lệ trẻ khiếm thị có khuyết tật kèm theo được xác định cụ thể qua công trình của Parker & Pogrund (2009) tại Hoa Kỳ (chiếm 65% từ sơ sinh đến 22 tuổi), Grimmet, Summer & Parker (2008) trên 202 trẻ (chiếm 60%), Wiley & Meinzen-Derr (2012), Boder & Bruce (2015) ghi nhận 30-40%. Về ảnh hưởng của khuyết tật, Fraiberg (1977), Hyvarinen (1994), Warren (1994), Hatton (1996), Trief, Bruce & Cascella (2010), Nandini Rawal & Vimal Thawani chỉ rõ tổn thương thị giác kết hợp với tự kỉ làm suy giảm tri giác cảm tính, hạn chế nhận thức tính bất biến của vật, cản trở tiền đọc/viết chữ Braille và làm nghèo nàn vốn từ. Về chương trình và phương pháp can thiệp, Hatlen (2000), Lord & McGee (2001) đề xuất Chương trình cốt lõi mở rộng (Expanded Core Curriculum - ECC); Jones, Jones & Ewing (2015), Marilyn H. Gense & D. Jay Gense (2005), Collins (1992), Kloos (2006), Sumitra Mishra (2011) nhấn mạnh chương trình chức năng và kế hoạch giáo dục cá nhân (IEP); Horvath và cộng sự (2005) nghiên cứu về điều chỉnh môi trường thị giác và thính giác.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Tác giả Nguyễn Đức Minh (2010), Phạm Minh Mục & Trần Thu Giang (2012), Hoàng Thị Nho & Cao Xuân Mỹ (2017), Phan Thị Thu (2017), Đỗ Thị Thảo (2017), Nguyễn Thị Hằng (2015, 2020) đã phân tích các rào cản, nguyên tắc giáo dục trẻ khiếm thị đa tật dựa trên khả năng còn lại và nhấn mạnh nhu cầu xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân.

Các nghiên cứu về phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm RLPTK

  • Về đặc điểm và đánh giá: Rowland (1990, 1996, 2004, 2009) phát triển Ma trận giao tiếp (Communication Matrix) đánh giá 4 chức năng và 7 cấp độ giao tiếp; Rosenberg, Westling & McLeskey (2011), Pizzo & Bruce (2010) phát triển Bảng kiểm tra chức năng giao tiếp.
  • Về biện pháp phát triển: Barbara Miles & Marianne Riggio (2013), Deborah Chen (2014), Prickett & Welch (1998) đề xuất sử dụng dấu hiệu xúc giác, lịch biểu đồ vật, hệ thống giao tiếp bổ trợ và thay thế (AAC, ICT) và giảng dạy giao tiếp theo môi trường (ECT); Reichle (1989), Mirenda (1988), Bruce (2005, 2010) nghiên cứu vai trò hỗ trợ của cha mẹ. Tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu Phạm Minh Mục & Trần Thu Giang (2012), Phan Thị Thủy (2017) bước đầu đưa ra các hình thức giao tiếp qua đồ vật thật và lịch trình nổi.

Các nghiên cứu về phát triển KNGT cho trẻ thông qua chơi

Smilansky (1968), Marianne Riggio & Jayanthi Narayan (2000), Pizzo & Bruce (2010), Yu Uenoyama (2019) chỉ rõ trẻ khiếm thị đa tật chủ yếu dừng lại ở cấp độ chơi một mình, chơi cạnh nhau, gặp khó khăn ở cấp độ chơi biểu tượng/đóng vai và thiếu tính cạnh tranh; Sheela Sinha (2011), Linder (2008), Griffin & Snow (1999) chứng minh chơi là phương tiện tự nhiên thúc đẩy tương tác đa giác quan. Ở Việt Nam, Nguyễn Đức Minh (2007), Bùi Thị Lâm (2011), Trần Thị Minh Thành (2013), Mai Xuân Thành & Hoàng Thị Ngoan (2017), Đỗ Thị Thơm & Nguyễn Nữ Tâm An (2018) đã khai thác trò chơi đối với sự phát triển của trẻ khiếm thính, khuyết tật trí tuệ và tự kỉ đơn tật.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu trên nhóm trẻ đa tật nói chung, độ tuổi nghiên cứu dàn trải (0-16 tuổi hoặc tuổi học đường) hoặc khảo sát trên các dạng tật đơn lẻ (khiếm thị đơn tật, tự kỉ đơn tật). Thiếu vắng các công trình nghiên cứu trực diện vào nhóm trẻ kết hợp hai dạng tật đặc thù là khiếm thị và rối loạn phổ tự kỉ ở độ tuổi mầm non 5-6 tuổi, chưa hệ thống hóa quy trình và biện pháp can thiệp phát triển KNGT thông qua việc tận dụng hoạt động chủ đạo là vui chơi. Luận án lựa chọn giải quyết trực tiếp khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

  • Khái niệm kĩ năng và giao tiếp: Luận án tiếp thu quan điểm của V. Krutetxki, Đặng Thành Hưng, A.N. Leontiev, Phạm Minh Hạc, Ngô Công Hoàn để xác định: Kĩ năng giao tiếp là sự thực hiện có hiệu quả một hành động diễn ra trong quá trình giao tiếp bằng cách vận dụng hiểu biết, tri thức, kinh nghiệm của bản thân, các phương tiện và hình thức giao tiếp khác nhau để tác động đến đối tượng giao tiếp nhằm đạt được mục đích giao tiếp đã đặt ra. Phát triển KNGT cho trẻ khiếm thị kèm RLPTK là quá trình tác động sư phạm có mục đích nhằm tạo ra chuyển biến tích cực từ chưa thực hiện được kĩ năng sang thực hiện có trợ giúp và tự thực hiện thành thục.
  • Tiếp cận giao tiếp tương tác: Luận án dựa trên mô hình thúc đẩy tương tác và học tập ngôn ngữ (INREAL), tiếp cận giao tiếp bổ trợ và thay thế (AAC, ICT) và phương pháp giảng dạy giao tiếp theo môi trường (ECT).
  • Các phương pháp tiếp cận chủ đạo:
    • Tiếp cận hoạt động: Phát triển KNGT thông qua hai hoạt động trung tâm là hoạt động chơi và hoạt động giao tiếp.
    • Tiếp cận phát triển: Tôn trọng quy luật phát triển lứa tuổi 5-6 tuổi và đánh giá sự tiến bộ theo từng giai đoạn cá nhân.
    • Tiếp cận tổng thể: Sử dụng giao tiếp tổng thể (kết hợp xúc giác, thính giác, cử chỉ, lời nói) và đặt KNGT trong sự phát triển hài hòa với các lĩnh vực nhận thức, thể chất.
    • Tiếp cận cá biệt hóa: Điều chỉnh biện pháp sư phạm theo mức độ khuyết tật, nhu cầu riêng của từng trẻ và điều kiện thực tế của từng cơ sở giáo dục.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp:

  1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các văn bản, tài liệu khoa học trong và ngoài nước.
  2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Khảo sát 60 CBQL và giáo viên tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt.
    • Phương pháp trắc nghiệm/bảng kiểm: Xây dựng bộ công cụ đánh giá 06 nhóm KNGT trên cơ sở tham khảo Ma trận giao tiếp (Communication Matrix của Rowland), Dự án Oregon (Oregon Project) và Bảng kiểm tra chức năng giao tiếp của Trường Perkins.
    • Phương pháp quan sát, phỏng vấn sâu và xin ý kiến chuyên gia.
    • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case Study) và thực nghiệm sư phạm: Thực hiện trên 03 trẻ khiếm thị kèm RLPTK 5-6 tuổi theo thiết kế đo trước - sau thực nghiệm (TTN - STN).
  3. Nhóm phương pháp thống kê toán học: Phân tích, xử lý số liệu định lượng bằng phần mềm SPSS và xử lý định tính qua NVivo; sử dụng các đại lượng thống kê mô tả (điểm trung bình, độ lệch chuẩn), kiểm định sự khác biệt trước - sau thực nghiệm và kiểm định tính đồng nhất của phương sai.
Nhóm công cụ / Thang đo tham chiếu Đơn vị / Tác giả gốc Phạm vi lĩnh vực đánh giá
Communication Matrix Charity Rowland (2009) 04 chức năng giao tiếp và 07 cấp độ giao tiếp
Oregon Project Dự án Oregon (Hoa Kỳ) Tất cả các lĩnh vực phát triển của trẻ 0-6 tuổi
Checklist for Functional Communication Trường Perkins (Hoa Kỳ) Kĩ năng giao tiếp chức năng ở trẻ đa tật

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận của đề tài thông qua các nội dung:

  • Đặc điểm phát triển của trẻ khiếm thị kèm RLPTK 5-6 tuổi: Khuyết tật thị giác kết hợp RLPTK gây ảnh hưởng sâu sắc đến thể chất, định hướng di chuyển (ngại vận động, khó xác định phương hướng), nhận thức (khoảng 75% thông tin tiếp nhận qua thị giác bị suy giảm, khó hình thành biểu tượng về tính bất biến của vật, tri giác chủ yếu qua xúc giác và thính giác) và ngôn ngữ (chiếm tỉ lệ lớn trẻ không có ngôn ngữ nói hoặc nhại lời, rỗng nghĩa, thiếu cử chỉ điệu bộ).
  • Cấu trúc 06 nhóm KNGT của trẻ khiếm thị kèm RLPTK 5-6 tuổi:
    1. Nhóm 1: Tập trung chú ý và lắng nghe (chú ý song phương, phản hồi khi gọi tên).
    2. Nhóm 2: Sử dụng phương tiện giao tiếp để thể hiện nhu cầu (dùng cử chỉ, đồ vật, âm thanh, lời nói).
    3. Nhóm 3: Hiểu và cung cấp thêm thông tin (tiếp nhận thông tin qua thính giác/xúc giác, trả lời câu hỏi).
    4. Nhóm 4: Kiểm soát cảm xúc (kiềm chế hành vi giận dữ, tự hại, chấp nhận từ chối).
    5. Nhóm 5: Luân phiên, tương tác và hòa nhập nhóm (chờ đợi lượt, tương tác với bạn).
    6. Nhóm 6: Xác định và điều chỉnh khoảng cách, tư thế khi giao tiếp (duy trì tư thế cơ thể phù hợp, định vị khoảng cách tiếp xúc).
  • Bản chất và vai trò của chơi: Chơi tạo môi trường tự nhiên thúc đẩy sự gắn kết. Đặc điểm chơi của trẻ khiếm thị kèm RLPTK thường bị trì hoãn ở giai đoạn cảm giác - vận động, chủ yếu chơi một mình hoặc chơi cạnh nhau, thao tác đồ chơi rập khuôn và khó đạt tới giai đoạn chơi biểu tượng. Việc tổ chức chơi có chủ đích theo quy trình từng bước sẽ kích hoạt các phản hồi giao tiếp ở trẻ.

CHƯƠNG 2: Thực trạng phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng trên 30 trẻ khiếm thị kèm RLPTK (nhóm trẻ mù kèm RLPTK nhẹ và trung bình) và 60 CBQL, GV tại 8 tỉnh/thành phố:

  • Thực trạng mức độ KNGT của trẻ: Mức độ KNGT của 30 trẻ khảo sát đạt mức trung bình thấp. Trong 06 nhóm kĩ năng, nhóm kĩ năng tập trung chú ý và lắng nghe (TC1) và nhóm sử dụng phương tiện giao tiếp thể hiện nhu cầu (TC2) có điểm trung bình cao hơn nhưng vẫn ở mức thấp; các nhóm kiểm soát cảm xúc (TC4), luân phiên hòa nhập nhóm (TC5) và điều chỉnh tư thế, khoảng cách (TC6) có mức độ thực hiện rất hạn chế. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ KNGT giữa nhóm trẻ có ngôn ngữ lời nói và nhóm trẻ không có ngôn ngữ lời nói, trong khi khác biệt theo giới tính không đáng kể.
  • Thực trạng nhận thức và hoạt động của giáo viên: Đa số GV nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển KNGT cho trẻ thông qua chơi. Tuy nhiên, việc lựa chọn nội dung, biện pháp và hình thức tổ chức chơi còn lúng túng. Hình thức tổ chức can thiệp chủ yếu diễn ra dưới dạng cá nhân 1:1, hình thức chơi nhóm đôi hoặc nhóm nhỏ còn hạn chế do lo ngại về hành vi gây rối và khả năng kiểm soát an toàn thị giác cho trẻ.
  • Yếu tố ảnh hưởng: Trình độ chuyên môn đặc thù của GV về can thiệp đa tật, thiếu đồ dùng đồ chơi chuyển đổi thích ứng xúc giác - âm thanh, sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường chưa đồng bộ, cùng sự thiếu hụt quy trình can thiệp chuẩn hóa là các nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả giáo dục.

CHƯƠNG 3: Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

Chương 3 đề xuất hệ thống biện pháp can thiệp dựa trên 06 nguyên tắc sư phạm: Đảm bảo tính giáo dục; Đảm bảo tính hệ thống; Đảm bảo tính toàn diện; Đảm bảo tính thực tiễn; Đảm bảo tính tiếp cận cá nhân; Đảm bảo tính tự nguyện tham gia. Hệ thống gồm 03 nhóm biện pháp:

Nhóm biện pháp Nội dung các biện pháp cụ thể
1. Nhóm biện pháp chuẩn bị - Đánh giá khả năng, nhu cầu giao tiếp và kĩ năng chơi ban đầu của từng trẻ.
- Thiết lập môi trường chơi an toàn, thuận lợi về xúc giác, âm thanh và đồ chơi chức năng.
- Lập kế hoạch giáo dục cá nhân (IEP) lồng ghép mục tiêu KNGT vào các hoạt động chơi.
2. Nhóm biện pháp thực hiện - Tổ chức trò chơi tương tác vận động - cảm giác nhằm thu hút chú ý và thiết lập tiếp xúc.
- Sử dụng hệ thống lịch trình đồ vật thật và biểu tượng xúc giác trong trò chơi.
- Dạy kĩ năng luân phiên, chia sẻ lượt chơi qua trò chơi nhóm đôi và nhóm nhỏ có hướng dẫn.
- Rèn luyện kĩ năng điều chỉnh tư thế, khoảng cách giao tiếp và kiểm soát cảm xúc trong khi chơi.
3. Nhóm biện pháp bổ trợ - Tăng cường sử dụng phương tiện giao tiếp bổ trợ và thay thế (AAC, thẻ xúc giác).
- Hướng dẫn, tập huấn và phối hợp với cha mẹ tổ chức hoạt động chơi giao tiếp tại gia đình.
- Đánh giá định kỳ sự tiến bộ của trẻ để điều chỉnh mức độ hỗ trợ trong trò chơi.

Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi trên 60 CBQL và GV cho thấy các biện pháp đề xuất đều được đánh giá ở mức cao, có sự tương quan thuận giữa tính cần thiết và tính khả thi.

CHƯƠNG 4: Thực nghiệm phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

Chương 4 kiểm chứng tính hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất thông qua thực nghiệm sư phạm trên 03 trường hợp nghiên cứu điển hình:

  • Khách thể thực nghiệm:
    • Trường hợp 1 (Trẻ D.H): Trẻ nam, mù bẩm sinh kèm RLPTK mức độ trung bình, khả năng ngôn ngữ hạn chế, có nhiều hành vi định hình (lắc lư, tự đập tay).
    • Trường hợp 2 (Trẻ N.Th): Trẻ nữ, khiếm thị nặng kèm RLPTK, có ngôn ngữ nhại lời, khó kiểm soát cảm xúc khi thay đổi môi trường.
    • Trường hợp 3 (Trẻ P.T): Trẻ nam, mù kèm RLPTK mức độ nhẹ, không có ngôn ngữ lời nói chủ động, thu mình, không tương tác với bạn.
  • Quy trình thực nghiệm: Thực hiện đánh giá ban đầu (TTN) bằng bộ công cụ 06 nhóm KNGT kết hợp trắc nghiệm Oregon và Communication Matrix; tiến hành can thiệp thông qua chuỗi trò chơi có chủ đích theo kế hoạch cá nhân; tổ chức các lần đo sau can thiệp (STN lần 1, STN lần 2).
  • Kết quả thực nghiệm:
    • Cả 03 trẻ đều có sự tiến bộ rõ rệt về điểm số KNGT ở tất cả 06 nhóm tiêu chí sau thực nghiệm.
    • Điểm trung bình nhóm tiêu chí chú ý lắng nghe (TC1) và sử dụng phương tiện giao tiếp (TC2) có mức tăng trưởng mạnh nhất. Các hành vi tiêu cực, định hình giảm thiểu đáng kể trong các tình huống chơi tương tác.
    • Kiểm định thống kê so sánh kết quả trước và sau thực nghiệm (kiểm định t-test/Wilcoxon và kiểm định tính đồng nhất phương sai) khẳng định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), chứng minh tính đúng đắn của giả thuyết khoa học.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và mở rộng khung lý luận chuyên biệt về phát triển KNGT cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ lứa tuổi 5-6 tuổi thông qua hoạt động chơi.
  • Làm rõ đặc trưng giao tiếp kết hợp giữa hai dạng tật (khiếm khuyết thị giác và khiếm khuyết tương tác xã hội của RLPTK), xác lập cấu trúc 06 nhóm KNGT cần hình thành cho trẻ 5-6 tuổi chuẩn bị vào học đường.
  • Bổ sung cơ sở khoa học về việc vận dụng hoạt động chơi như một phương thức can thiệp giáo dục đặc thù, kết hợp các tiếp cận giao tiếp bổ trợ và thay thế (AAC) và phương pháp theo môi trường (ECT).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Xây dựng bộ công cụ khảo sát, đánh giá KNGT dành riêng cho trẻ khiếm thị kèm RLPTK 5-6 tuổi được chuyển hóa từ các thang đo chuẩn quốc tế (Communication Matrix, Oregon Project, Perkins Checklist).
  • Cung cấp dữ liệu thực trạng toàn diện về mức độ KNGT của trẻ và thực trạng tổ chức hoạt động can thiệp tại 08 tỉnh/thành phố trên toàn quốc.
  • Đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm gồm 03 nhóm (chuẩn bị, thực hiện, bổ trợ) có quy trình rõ ràng, minh chứng qua 03 ca thực nghiệm điển hình, đóng vai trò tài liệu hướng dẫn thực hành cho giáo viên chuyên biệt và phụ huynh.

Khuyến nghị sư phạm

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Ban hành chương trình can thiệp đặc thù và tài liệu hướng dẫn giáo dục trẻ khiếm thị đa tật; bổ sung trang thiết bị dạy học và đồ chơi thích ứng cho các cơ sở giáo dục hòa nhập và chuyên biệt.
  • Đối với các cơ sở giáo dục đặc biệt: Tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho giáo viên về kỹ năng đánh giá và can thiệp đa tật; đẩy mạnh hình thức chơi nhóm đôi, nhóm nhỏ lồng ghép trong kế hoạch giáo dục cá nhân.
  • Đối với gia đình trẻ: Duy trì môi trường giao tiếp liên tục tại gia đình bằng cách phối hợp sử dụng hệ thống lịch trình đồ vật, đồ chơi xúc giác theo hướng dẫn của nhà trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số lượng khách thể thực nghiệm sư phạm chuyên sâu còn giới hạn (tiến hành trên 03 trường hợp nghiên cứu điển hình) do tính đặc thù hiếm gặp của trẻ khiếm thị kèm RLPTK ở độ tuổi 5-6. Mẫu khảo sát diện rộng (30 trẻ) chủ yếu tập trung tại các trung tâm, trường chuyên biệt thuộc 08 tỉnh/thành phố lớn đã từng tham gia các chương trình tập huấn quốc tế, chưa bao quát được toàn bộ trẻ khiếm thị kèm RLPTK đang ở tại gia đình tại các vùng nông thôn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quy mô thực nghiệm sư phạm trên cỡ mẫu lớn hơn và kéo dài thời gian theo dõi sau can thiệp khi trẻ bước vào lớp 1.
    • Nghiên cứu ứng dụng các thiết bị công nghệ hỗ trợ kỹ thuật số và phần mềm giao tiếp thích ứng cho nhóm trẻ khiếm thị kèm RLPTK ở các độ tuổi khác nhau.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Giáo dục đặc biệt, Tâm lý học giáo dục: Tham khảo khung lý thuyết chuyên sâu về trẻ khiếm thị đa tật, phương pháp tiếp cận INREAL, AAC, ECT và quy trình thiết kế công cụ đánh giá KNGT.
  • Giáo viên tại các trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập, trường chuyên biệt: Sử dụng trực tiếp hệ thống các trò chơi tương tác, quy trình sử dụng lịch trình đồ vật thật và thang đánh giá 06 nhóm KNGT để lập và thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân (IEP).
  • Cán bộ quản lý giáo dục và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn phục vụ việc biên soạn tài liệu tập huấn can thiệp sớm và đầu tư cơ sở vật chất phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt.
  • Phụ huynh có con khiếm thị kèm RLPTK: Cung cấp nguyên tắc và kĩ thuật tổ chức các trò chơi tương tác xúc giác - thính giác tại gia đình để thúc đẩy tương tác giao tiếp hàng ngày.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi có những hành vi đặc trưng nào gây khó khăn cho giao tiếp?

Theo phân tích của luận án, trẻ khiếm thị kèm RLPTK 5-6 tuổi thường có các hành vi điển hình như: lắc lư người, vẫy tay, chọc tay vào mắt, tự xâm hại bản thân, phát ra các âm vô nghĩa. Trẻ thiếu tiếp xúc mắt - mắt, ít sử dụng cử chỉ điệu bộ để tương tác, khó nhận biết và thể hiện cảm xúc, khó khăn trong việc chủ động bắt đầu và duy trì cuộc hội thoại.

2. Sáu nhóm kĩ năng giao tiếp được luận án xây dựng để đánh giá và can thiệp gồm những nhóm nào?

Sáu nhóm KNGT gồm:

  1. Nhóm kĩ năng tập trung chú ý và lắng nghe;
  2. Nhóm kĩ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp để thể hiện nhu cầu bản thân;
  3. Nhóm kĩ năng hiểu và cung cấp thêm thông tin;
  4. Nhóm kĩ năng kiểm soát cảm xúc;
  5. Nhóm kĩ năng luân phiên, tương tác và hòa nhập trong nhóm;
  6. Nhóm kĩ năng xác định và điều chỉnh khoảng cách, tư thế khi giao tiếp.

3. Những công cụ chuẩn quốc tế nào được tác giả tham khảo để thiết kế bộ công cụ đánh giá KNGT?

Tác giả đã tham khảo 03 công cụ chuẩn:

  • Ma trận giao tiếp (Communication Matrix) của Charity Rowland;
  • Bảng kiểm tra kĩ năng thuộc Dự án Oregon (Oregon Project);
  • Bảng kiểm tra chức năng giao tiếp của Trường Perkins - Hoa Kỳ (Checklist for Functional Communication).

4. Hệ thống biện pháp phát triển KNGT qua chơi được cấu trúc thành mấy nhóm?

Hệ thống biện pháp gồm 03 nhóm:

  • Nhóm chuẩn bị: Đánh giá nhu cầu/kĩ năng chơi, thiết lập môi trường chơi thích ứng, xây dựng IEP;
  • Nhóm thực hiện: Tổ chức trò chơi tương tác cảm giác - vận động, sử dụng lịch trình đồ vật thật/biểu tượng xúc giác, dạy kĩ năng luân phiên và điều chỉnh tư thế/cảm xúc;
  • Nhóm bổ trợ: Sử dụng phương tiện AAC, tập huấn phối hợp cùng cha mẹ và đánh giá định kỳ.

5. Kết quả thực nghiệm sư phạm trên 03 trường hợp điển hình đã chỉ ra điều gì?

Cả 03 trường hợp trẻ (D.H, N.Th, P.T) sau can thiệp đều có sự tiến bộ rõ rệt ở cả 06 nhóm tiêu chí KNGT so với trước thực nghiệm, đặc biệt ở nhóm kĩ năng chú ý lắng nghe và sử dụng phương tiện giao tiếp để thể hiện nhu cầu; các hành vi định hình giảm dần, mức độ khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thắm đã giải quyết một vấn đề cấp thiết của giáo dục đặc biệt thông qua việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng phát triển KNGT cho trẻ khiếm thị kèm RLPTK 5-6 tuổi. Hệ thống biện pháp sư phạm thông qua chơi được xây dựng khoa học, có tính liên hoàn từ chuẩn bị, thực hiện đến bổ trợ và đã được kiểm chứng hiệu quả qua thực nghiệm trên các ca điển hình. Công trình là tài liệu học thuật và thực tiễn có giá trị cao, đóng góp thiết thực vào công tác can thiệp sớm và chuẩn bị kỹ năng hòa nhập học đường cho nhóm trẻ khiếm thị đa tật tại Việt Nam.