Chương 1. PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GHI NHỚ SỰ KIỆN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG– LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Trong chương này chúng tôi đi sâu giải quyết các vấn đề cơ bản về khái niệm, cơ cở xuất phát, vai trò, ý nghĩa, phân loại kĩ năng ghi nhớ sự kiện và tổng kết điều tra thực trạng của việc phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện trong DHLS ở trường THPT hiện nay. Một số khái niệm Kĩ năng: trong khoa học và thực tế cuộc sống có nhiều cách gọi về thuật ngữ "kĩ năng" như là kĩ năng sống, kĩ năng mềm, kĩ năng chuyên môn, trung tâm huấn luyện kĩ năng. Vậy kĩ năng là gì? Bằng cách nào để tạo ra kĩ năng? cần phải học kĩ năng ở đâu? là vấn đề mà chúng ta quan tâm và mong muốn có lời giải.
Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi muốn thống nhất cách hiểu khái niệm “kĩ năng” nhằm vận dụng linh hoạt trong học tập và cuộc sống. Khái niệm kĩ năng có nhiều cách định nghĩa bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của cá nhân các nhà khoa học. Theo Từ điển Tiếng Việt “kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”. Từ điển Tâm lí học định nghĩa “kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hoạt động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”.
Nhà giáo dục I.F Kharlamop cho rằng “kĩ năng là những khả năng của học sinh có thể hoàn thành những hành động nào đó gắn liền với việc ứng dụng kiến thức vào thực tiễn. Thực tế cuộc sống đều thừa nhận kĩ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Kĩ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. Kĩ năng luôn có chủ đích và 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định hướng rõ ràng.
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu bàn về kĩ năng và các luận điểm trên, theo chúng tôi “kĩ năng là khả năng, là năng lực vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế thông qua hệ thống các hoạt động hoặc các thao tác, nhằm đạt được hiệu quả tương ứng”. Học tập của HS là một quá trình nhận thức, song khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học nó mang tính đặc thù, HS không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết về bản chất, tính qui luật của các hiện tượng khách quan mà nhằm lĩnh hội những tri thức mà loài người đã tích lũy, phù hợp với yêu cầu và trình độ nhận thức của mình. Để làm được điều đó các em cần phải có các kĩ năng cơ bản của nhận thức để tự mình khám phá những kiến thức mới đối với bản thân mình dù đó chỉ là khám lại những điều loài người đã biết mà trước hết là ghi nhớ lại những gì đã xảy ra trong quá khứ. Bởi vì, con người chỉ thực sự nắm vững cái mà mình giành được bằng chính những hoạt động của bản thân.
HS sẽ hiểu những gì trải qua bằng hoạt động nhận thức tích cực và sự cố gắng trí tuệ cùng với kĩ năng nhận thức cơ bản nhằm đạt được mục đích đặt ra. Đó chính là kĩ năng nhận thức là khả năng tiếp thu và xử lí thông tin về các sự vật, hiện tượng xung quanh thông qua hệ thống của các thao tác tư duy tương ứng. Trong quá trình học tập lịch sử, HS được rèn luyện các kĩ năng nhận thức tư duy, kĩ năng học tập bộ môn mà trước tiên là kĩ năng ghi nhớ sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử. Giữa kĩ năng với phản xạ có sự khác nhau.
Phản xạ là phản ứng của cơ thể với môi trường, phản xạ mang tính thụ động. Ngược lại, kĩ năng là phản ứng có ý thức và hoàn toàn mang tính chủ động. Giữa kĩ năng và thói quen cũng có sự khác nhau. Hầu hết các thói quen hình thành một cách vô thức và khó kiểm soát, trong khi đó kĩ năng được hình thành một cách có ý thức do quá trình luyện tập.
Thói quen rất khác với kiến thức, thậm chí có một số người còn nhầm lẫn kiến thức là kĩ năng cứng. Vậy đâu là khác biệt? Kiến thức là biết, là hiểu nhưng chưa bao giờ làm, thậm chí 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không bao giờ làm. Trong khi đó kĩ năng lại là hành động thuần thục trên nền tảng kiến thức. Nhiều học giả cho rằng chỉ có kiến thức suông thì chưa mạnh sử dụng kiến thức mới là sức mạnh.
Nói cách khác kĩ năng chính là sức mạnh. Có nhiều cách phân loại kĩ năng. Nếu xét theo tổng quan thì kĩ năng phân ra làm 3 loại: kĩ năng chuyên môn, kĩ năng sống và kĩ năng làm việc. Nếu xét theo liên đới chuyên môn có kĩ năng cứng, kĩ năng mềm và kĩ năng hỗn hợp.
Theo tính hữu ích cộng đồng có kĩ năng hữu ích và phản lợi ích xã hội. Cần nói thêm rằng kĩ năng mềm hay kĩ năng sống cũng chỉ là một nhóm kĩ năng với tên gọi khác nhau đều là những nhóm kĩ năng thiết yếu giúp cho chủ thể tồn tại và thăng hoa trong cuộc sống. Ghi nhớ: quá trình nhận thức của con người trải qua hai giai đoạn cảm tính và lí tính.Trong nhận thức sự kiện, muốn đánh giá được sự kiện phải trải qua giai đoạn nhận thức cảm tính, tức là HS phải ghi nhớ sự kiện, hiện tượng lịch sử. Trong cuốn “Từ điển từ và ngữ” ghi nhớ được hiểu chính là “sự ghi nhận, tái hiện và nhận thức lại của bộ não với những gì đã trải qua.
Ghi nhớ là sự nhận thức và ghi nhận lại những đặc điểm của sự vật, hiện tượng và mối liên hệ giữa chúng, cơ sở sinh học của quá trình này là mối liên hệ thần kinh tạm thời dưới dưới hình thức là tự làm sống lại mối liên hệ tạm thời đó bằng nhận thức và lưu giữ để tích lũy tri thức và kinh nghiệm. Bản thân sự tái hiện và nhận thức có tác dụng khôi phục tri thức và kinh nghiệm trong quá khứ. Sự nhanh, chậm, độ chuẩn xác, bền vững và linh hoạt trong ghi nhớ ở mỗi người khác nhau tùy theo mục đích, nhiệm vụ ghi nhớ, do phương pháp và thái độ trong quá trình ghi nhớ. Nội dung ghi nhớ của mỗi người thay đổi phụ thuộc vào giai đoạn, cảm hứng, kinh nghiệm sống, đối với một sự vật hiện tượng.
Sự ghi nhớ ở mỗi người có sự khác biệt về chiều sâu và chiều rộng [ 55-tr 9-10]. Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Cao Lũy, Nguyễn Văn Vang, trong Giáo trình Tâm lí học đại cương định nghĩa “Ghi nhớ là giai đoạn đầu tiên của một hoạt động nhớ. Đó là quá trình tạo nên dấu vết của đối tượng trên vỏ não, đồng thời cũng là quá trình gắn đối tượng đó với những kiến thúc 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cho nên, căn cứ vào mục đích ghi nhớ người ta chia thành ghi nhớ có chủ định và ghi nhớ không có chủ định.
Ghi nhớ không chủ định là ghi nhớ không có từ trước, không đòi hỏi phải nỗ lực ý chí, không dùng một thủ thuật nào để ghi nhớ tài liệu một cách tự nhiên. Tuy nhiên, không phải mọi sự kiện hiện tượng đều được ghi nhớ không chủ định như nhau. Ở loại ghi nhớ này mức độ ghi nhớ phụ thuộc vào sự hấp dẫn của nội dung tài liệu. Nếu nội dung tài liệu có khả năng tạo ra sự tập trung cao độ hay một xúc cảm mạnh mẽ thì sự ghi nhớ sẽ đạt hiệu quả.
Ghi nhớ có chủ định là loại ghi nhớ theo một mục đích đặt ra từ trước, đòi hỏi sự nỗ lực ý chí nhất định và cần có những thủ thuật phương pháp nhất định để đạt được mục đích ghi nhớ. Hiệu quả của loại ghi nhớ này phụ thuộc vào động cơ mục đích ghi nhớ. Đối với ghi nhớ có chủ định, việc sử dụng phương pháp hợp lý là một điều kiện quan trọng để đạt hiệu quả cao. Thông thường có hai cách ghi nhớ là ghi nhớ máy móc và ghi nhớ ý nghĩa.
Ghi nhớ máy móc tức là dựa trên sự lặp đi lặp lại nhiều lần một cách đơn giản tạo ra mối liên hệ bề ngoài giữa các phần của tài liệu ghi nhớ, không cần thông hiểu nội dung tài liệu. Cách ghi nhớ này thường tìm mọi cách để đưa vào trí nhớ tất cả nhứng gì có trong tài liệu một cách chính xác và chi tiết. Nhưng do không dựa trên thông hiểu nội dung tài liệu nên trong trí nhớ gồm toàn tài liệu không liên quan gì tới nhau. Biểu hiện của hình thức ghi nhớ máy móc của học sinh là học vẹt, ghi nhớ máy móc sẽ trở thành thói quen của học sinh nếu thầy-cô giáo thường xuyên đòi hỏi HS phải trả lời nguyên vẹn như trong sách.
Ví dụ như ghi nhớ định nghĩa, định luật, bài thơ, thuật nhớ là học thuộc lòng. Ghi nhớ ý nghĩa là loại ghi nhớ dựa trên sự thống nhất nội dung của tài liệu, dựa trên sự nhận thức những mối liên hệ lô gic giữa các bộ phận của tài liệu đó. Tức là ghi nhớ tài liệu trên cơ sở hiểu bản chất của nó, gắn quá trình ghi nhớ với quá trình tư duy và tưởng tượng nhằm nắm lấy bản chất của tài 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Do vậy, người ta gọi ghi nhớ ý nghĩa là ghi nhớ lôgic.
Điển hình của loại ghi nhớ này trong học tập của HS là phương pháp ghi nhớ theo điểm tựa. Ghi nhớ ý nghĩa là loại ghi nhớ chủ yếu trong học tập của HS, nó đảm bảo cho sự lĩnh hội tri thức một cách sâu sắc, bền vững. Loại hình ghi nhớ này tốn ít thời gian nhưng lại tiêu hao năng lượng thần kinh nhiều hơn. Quá trình ghi nhớ được tạo nên bởi các khâu không thể thiếu là ghi nhận, lưu giữ và nhớ lại.
Ghi nhận là quá trình nhận biết và ghi lại những đặc điểm sự vật và mối liên hệ giữa chúng, từ đó tích lũy tri thức và kinh nghiệm. Ghi nhớ được xuất phát từ ghi nhận, ghi nhận là tiền đề cho lưu giữ và nhớ lại. Lưu giữ là quá trình lưu lại những nội dung đã ghi nhận vào não bộ dưới các hình thức nhất định. Lưu giữ là khâu trung gian của ghi nhớ, nếu không có lưu giữ thì không có quá trình nhớ lại.