CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH DỊCH VỤ VẬN TẢI Ở CÁC DOANH NGHIỆP VẬN TẢI VÀ THUÊ TÀU 1. Dịch vụ vận tải 1. Khái niệm dịch vụ, dịch vụ vận tải 1. Khái niệm dịch vụ Theo lý thuyết kinh tế học, dịch vụ là một loại sản phẩm kinh thế không phải là vật phẩm mà là công việc của con người dưới hình thái lao động thể lực, kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp, khả năng tổ chức và thương mại.
Đang có nhiều quan niệm khác nhau về dịch vụ. Theo cách chung nhất có hai cách hiểu như sau: Theo nghĩa rộng: Dịch vụ được coi là lĩnh vực kinh tế thứ ba trong nền kinh tế quốc dân. Theo cách hiểu này, các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp đều thuộc ngành dịch vụ. Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ là những hoạt động tiếp tục, hỗ trợ, khuếch trương cho quá trình kinh doanh, bao gồm các hoạt động trước, trong và sau khi bán, là phần mềm của sản phầm được cung ứng cho khách hàng.
Khái niệm dịch vụ vận tải Trong xã hội chúng ta sự di chuyển vị trí của công cụ sản xuất, sản phẩm lao động và bản thân con người là một nhu cầu tất yếu và chỉ có ngành dịch vụ vận tải mới thỏa mãn được nhu cầu này. Vậy thế nào là dịch vụ vận tải? Dịch vụ vận tải là một ngành tổ chức vận tải thực hiện việc chuyên chở hàng hóa từ địa điểm này đến một địa điểm khác có kèm theo các thủ tục chứng 6 từ liên quan bảo đảm hàng hóa được chuyên chở tới đúng thời gian, chất lượng và có hiệu quả. Như vậy, dịch vụ vận tải không chỉ là sự thay đổi về không gian và thời gian giống như vận tải mà hơn nữa vận tải còn là một ngành tổ chức vận tải, nghĩa là được coi là một quá trình tổ chức, một sự kết hợp giữa vận tải với các hoạt động dịch vụ liên quan. Mặt khác, để thực hiện một dịch vụ vận tải hoàn chỉnh, người tổ chức vận tải cần phải có những chứng cứ để xác nhận điều đó.
Dịch vụ vận tải yêu cầu các đối tác xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ mà các bên phải thực hiện, những xác định này được thể hiện qua các chứng từ vận tải, có thể là hợp đồng hàng hóa hoặc đơn xin lưu khoang, hoặc chứng từ chứng nhận về hàng hóa, nó giúp cho sự vận chuyển hàng hóa đúng về thời gian, đồng thời là căn cứ xem xét tình trạng hàng hóa sau quá trình vận chuyển có nguyên vẹn cả về số lượng và chất lượng hay không. Đặc điểm, phân loại, vai trò của dịch vụ vận tải 1. Đặc điểm của dịch vụ vận tải Sản xuất trong vận tải là một quá trình tác động về mặt không gian, chứ không tác động về mặt kỹ thuật vào đối tượng lao động. Sản xuất trong vận tải không sáng tạo ra sản phẩm vật chất mới mà sáng tạo ra một sản phẩm đặc biệt, gọi là sản phẩm vận tải.
Sản phẩm vận tải là di chuyển vị trí của đối tượng chuyên chở. Bản chất và hiệu quả mong muốn của xản xuất vận tải là thay đổi vị trí chứ không phải thay đổi hình dáng, tính chất hóa lý của đối tượng chuyên chở. Vận tải hàng hoá là sản phẩm dịch vụ nên khác với sản phẩm vật chất khác, vận chuyển hàng hoá có các đặc điểm nổi bật như tính vô hình, tính không tách rời, tính không ổn định và tính không lưu giữ được. Sản phẩm vận tải không có hình dáng, kích thước cụ thể, không tồn tại độc lập ngoài quá trình sản xuất ra nó.
Sản phẩm vận tải không có khoảng cách về 7 thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng. Khi quá trình sản xuất vận tải kết thúc thì sản phẩm vận tải cũng được tiêu dùng ngay. Dịch vụ vận tải hàng hoá có tính vô hình bởi người ta không thể nhìn thấy được, không cảm nhận được, không nghe thấy được…trước khi mua nó. Người ta không thể biết trước được là chuyến hàng đó có được vận chuyển đúng lịch trình hay không, có đảm bảo an toàn hay không, và có đến đúng địa điểm hay không…cho tận tới khi nhận được hàng.
Chất lượng dịch vụ vận chuyển hàng hoá thường không ổn định do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan gây ra. Bên cạnh những yếu tố không kiểm soát được như điều kiện thời tiết và điều kiện giao thông, những yếu tố đa dạng về người lái xe, chất lượng phương tiện, bến bãi…cũng gây tác động không nhỏ đến tính không ổn định của dịch vụ vận tải. Giám sát thường xuyên và chặt chẽ là nội dung cần thiết để đảm bảo chất lượng dịch vụ ổn định và đồng đều. Dịch vụ vận chuyển không thể lưu kho được.
Nhu cầu về vận chuyển hàng hoá thường dao động rất lớn. Trong thời kì cao điểm (các mùa mua sắm) thì đơn vị vận tải phải có nhiều phương tiện hơn gấp bội để đảm bảo phục vụ. Ngược lại, khi vắng kháchvẫn phải tốn các chi phí cơ bản về khấu hao tài sản, duy tu bảo dưỡng phương tiện, chi phí quản lí, v. Tính không lưu giữ được của dịch vụ vận chuyển khiến nhà quản trị cần thận trọng khi thuê đơn vị vận tải cam kết đúng chất lượng dịch vụ vào mùa cao điểm và khai thác cơ hội giảm giá vào mùa thấp điểm.
Tư cách là hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, vận tải không thể tách rời nhu cầu chuyên chở của nền kinh tế quốc dân. Nó góp phần sáng tạo ra một phần đáng kể tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân 1. Phân loại dịch vụ vận tải Có nhiều cách phân loại vận tải, tùy thuộc vào các tiêu chuẩn lựa chọn. Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu về vận tải: 8 Căn cứ vào phạm vi phục vụ: Vận tải được chia thành vận tải nội bộ xí nghiệp và vận tải công cộng.
Vận tải nội bộ xí nghiệp là một bộ phận không thể tách rời của quá trình sản xuất của một xí nghiệp, nhà máy, công ty… Vận tải phục vụ việc vận chuyển nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm và cán bộ công nhân viên trong nội bộ xí nghiệp, nhà máy, công ty. Sản phẩm do vận tải nội bộ tạo ra là một bộ phận của sản phẩm toàn xí nghiệp, nhà máy, công ty. Trái lại, vận tải công cộng là một ngành sản xuất vật chất độc lập, tạo ra sản phẩm riêng biệt và phục vụ nhu cầu chuyên chở chung của toàn xă hội. Căn cứ vào môi trường và điều kiện sản xuất: Vận tải được phân thành các loại: Vận tải đường ô tô, vận tải đường sắt, vận tải đường biển, vận tải đường sông, vận tải đường hàng không, vận tải đường ống và vận tải vũ trụ.
Căn cứ vào đối tượng chuyên chở: Vận tải được phân thành các loại: Vận tải hàng hóa, vận tải hành khách, vận tải hàng hóa-hành khách. Căn cứ vào khoảng cách hoạt động phục vụ: Vận tải được phân thành các loại: Vận tải đường gần (vận tải trong một thành phố, trong một vùng nhất định), vận tải đường xa (vận tải đường dài trong nội địa, vận tải đường biển viễn dương). Căn cứ vào cách tổ chức chuyên chở: Vận tải được chia thành các loại: Vận tải đơn phương thức (Unimodal Transport), vận tải đa phương thức (Multimodal Transport), vận tải đứt đoạn (Segmented Transport), vận tải hàng nguyên (nguyên toa xa, nguyên tàu biển, nguyên ô tô, nguyên máy bay), vận tải hàng lẻ, vận tải hàng hỗn hợp. 9 Vận tải đơn phương thức là trường hợp hàng hóa hoặc hành khách được vận chuyển từ nơi đi đến nơi đến bằng một loại công cụ vận tải duy nhất.
Vận tải đa phương thức là việc vận chuyển hàng hóa hoặc hành khách từ nơi đi đến nơi đến bằng ít nhất hai loại công cụ vận tải trở lên, sử dụng một loại chứng từ vận tải duy nhất và chỉ một người chuyên chở chịu trách nhiệm trong suốt quá tŕnh vận chuyển. Vận tải đứt đoạn là việc vận chuyển hàng hóa hoặc hành khách từ nơi đi đến nơi đến bằng hai hay nhiều công cụ vận tải khác nhau, sử dụng các chứng từ vận tải khác nhau, có nhiều người chuyên chở tham gia và mỗi người chuyên chở chỉ phải chịu trách nhiệm trên đoạn đường mình vận chuyển. Vận tải hàng nguyên là khi khối lượng hàng hóa lớn đủ xếp đầy một hay nhiều toa xe, nhiều ô tô, một máy bay, một tàu biển… Vận tải hàng lẻ là khi hàng hóa không đủ để gửi nguyên như trường hợp trên. Tất cả các phương thức vận tải: Đường sắt, đường ô tô, đường biển, đường sông, đường hàng không, đường ống… tạo thành hệ thống vận tải thống nhất trong một nước, trong một khu vực địa lý và trên toàn thế giới.
Tuy mỗi phương thức có một đặc điểm riêng, nhưng chúng lại có mối quan hệ mật thiết và hữu cơ với nhau. Nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống vận tải thống nhất là phối hợp hoạt động đồng bộ nhằm thỏa mãn nhu cầu chuyên chở của toàn xă hội, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành, hạ giá thành vận tải… 1.Vai trò của dịch vụ vận tải trong nền kinh tế quốc dân Ngành giao thông vận tải là một trong những ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Một mặt, ngành giao thông vận tải có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu chuyên chở của toàn bộ nền kinh tế-xă hội. Ngành giao thông vận tải sáng tạo ra một phần đáng kể trong tổng sản phẩm trong nước và thu 10 nhập quốc dân.
Mặt khác, ngành giao thông vận tải lại là một thị trường tiêu thụ rất lớn các sản phẩm của ngành kinh tế kỹ thuật khác. Hệ thống giao thông vận tải được ví như hệ thống tuần hoàn máu trong cơ thể con người. Phát triển giao thông vận tải phản ánh trình độ phát triển kinh tế- xă hội của đất nước. Giao thông vận tải phục vụ tất cả các lĩnh vực của đời sống xă hội.: Sản xuất, lưu thông, tiêu dùng, văn hóa, an ninh quốc phòng.
Giao thông vận tải là yếu tố quan trọng đảm bảo cho quá tŕnh sản xuất và tái sản xuất của xă hội được liên tục thông qua việc vận chuyển cung ứng nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm và lao động phục vụ sản xuất. Các xí nghiệp nhà máy là những bộ phận thống nhất của hệ thống kinh tế quốc dân, chỉ có thể tiến hành sản xuất bình thường và thuận lợi trong điều kiện có sự liên hệ mật thiết với nhau thông qua quá trình sản xuất của ngành vận tải.