Chương 1 đã trình bày tổng quan về lý do hình thành đề tài, mục tiêu, phạm vi, đối tượng, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của việc nghiên cứu. Chương 2 sẽ hệ thống cơ sở lý thuyết về môi trường dịch vụ logistics, đồng thời trình bày cơ bản về thực trạng ngành logistics, nhà cung cấp dịch vụ logistics, cơ sở hạ tầng các cảng tại Tp.HCM và vùng phụ cận. Từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết và các giả thuyết.1 Dịch vụ và dịch vụ logistics 2.1 Khái quát về dịch vụ Theo tài liệu của dự án Mutrap (2006) [1] - Dự án hỗ trợ thương mại đa biên, cho đến nay chưa có một định nghĩa chính thống về dịch vụ. Dịch vụ là một loại hoạt động kinh tế, tuy không đem lại một sản phẩm cụ thể như hàng hóa, nhưng vì là một loại hình hoạt động kinh tế nên cũng có người bán - người cung cấp dịch vụ và người mua – người sử dụng dịch vụ.
Theo tài liệu của dự án Mutrap (2006)[1], WTO phân loại dịch vụ thành 12 ngành, trong mỗi ngành lại chia thành một số phân ngành: Dịch vụ kinh doanh - Các dịch vụ nghề nghiệp như dịch vụ pháp lý, kế toán, kiểm toán, bất động sản, thiết kế, y tế, nha khoa, thú y…và các nghề nghiệp khác. - Dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan. - Dịch vụ nghiên cứu phát triển. - Dịch vụ bất động sản, cho thuê.
- Dịch vụ kinh doanh khác: tư vấn quản lý, quảng cáo, thử nghiệm kỹ thuật, bảo dưỡng sữa chữa, đóng gói in ấn, tổ chức hội nghị, vệ sinh. Dịch vụ liên lạc - Dịch vụ bưu chính viễn thông và chuyển phát. - Tất cả các dịch vụ viễn thông cơ bản và gia tăng giá trị, kể cả thông tin trực tuyến và xử lý số liệu. 13 - Dịch vụ nghe nhìn: dịch vụ phát thanh, phát hình, dịch vụ sản xuất và phân phối băng hình, liên lạc vệ tinh.
Dịch vụ xây dựng thi công. Dịch vụ phân phối: đại lý bán lẻ, bán buôn. Dịch vụ giáo dục. Dịch vụ môi trường: dịch vụ thoát nước, vệ sinh và xử lý chất thải.
Dịch vụ tài chính: Bảo hiểm trực tiếp, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và các dịch vụ bảo hiểm hỗ trợ khác; dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác. Kể cả các dịch vụ liên quan đến chứng khoán, cung cấp thông tin tài chính và quản lý tài sản. Dịch vụ liên quan đến sức khỏe và dịch vụ xã hội. Dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến lữ hành.
Dịch vụ giải trí, văn hóa và thể thao. Dịch vụ vận tải: dịch vụ vận tải đường biển, đường sông, đường bộ, vận tải đường ống, vận tải đa phương thức, các dịch vụ hỗ trợ cho tất cả các phương thức vận tải. Dịch vụ khác: gồm bất kỳ các loại dịch vụ nào chưa nêu ở trên. Theo phân loại của WTO thì dịch vụ logistics không được coi là một ngành độc lập theo các mã phân loại của GATS (General Agreement on Trade in Service) mà được phân trong nhóm dịch vụ vận tải.
Có nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ, cho đến nay khái niệm về dịch vụ vẫn còn nhiều vấn đề tranh luận. Do đặc trưng của dịch vụ là vô hình cùng với tính đa dạng của nhiều loại hình dịch vụ nên việc thống nhất một khái niệm về dịch vụ giữa các nhà nghiên cứu trở nên khó khăn. Sau đây là một khái niệm về dịch vụ được nhiều nhà nghiên cứu tham khảo và đề cập đến trong nghiên cứu. Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, nhằm làm thõa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng (Zeithaml &Bitner, 2000)[24].2 Các đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ là một loại hàng hóa đặc biệt, có những nét đặc trưng riêng mà những hàng hóa hiện hữu không có.
Dịch vụ có các đặc điểm chính sau (Parasuraman và các cộng sự 1985,1988)[20, 21]: Tính vô hình Dịch vụ mang tính vô hình, đây là đặc điểm cơ bản của dịch vụ, đặc điểm này cho thấy dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật thể, không nhìn thấy được, không nếm được, không ngửi được cũng như không nghe thấy được trước khi mua. Tính vô hình của dịch vụ có nghĩa là hầu hết các dịch vụ không thể đo, đếm, thống kê, thử nghiệm, chứng nhận trước khi cung cấp để đảm bảo chất lượng dịch vụ. Tính không đồng nhất Sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn hóa được. Dịch vụ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khó kiểm soát được.
Do trong hoạt động cung ứng, các nhân viên cung cấp dịch vụ không thể tạo ra được dịch vụ như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau. Do vậy trong việc cung cấp dịch vụ thường được thực hiện cá nhân hóa, thoát ly khỏi những quy chế, điều này càng làm cho dịch vụ tăng thêm mức độ khác biệt giữa chúng. Tính không thể tách rời Tính không thể tách rời của dịch vụ phản ánh việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời. Khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rõ ràng là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng mà dịch vụ thường được tạo ra và sử dụng đồng thời.
Quá trình sản xuất gắn liền với việc tiêu dùng dịch vụ. Tính không tồn kho Dịch vụ không thể cất trữ, không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác. Dịch vụ không tồn trữ được nên việc sản xuất, mua bán và tiêu dùng bị giới hạn bởi thời gian. Dịch vụ không thể lưu kho được, không thể tích trữ để tiêu thụ ở tương lai.
Tính không sở hữu Dịch vụ không thể sở hữu hoặc cất giữ như sản phẩm khác. Dịch vụ được mua và sử dụng trong một thời gian nhất định.3 Khái quát về dịch vụ logistics Logistics Trong lịch sử nhân loại ban đầu logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân đội, được hiểu như là công tác hậu cần. Napoleon đã từng định nghĩa: ‘‘Logistics là hoạt động để duy trì lực lượng quân đội’’. Sau này thuật ngữ logistics dần được áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế, được lan truyền từ Châu lục này sang Châu lục khác, từ nước này sang nước khác và hình thành nên logistics toàn cầu.
Logistics phát triển rất nhanh chóng, ngày này logistics được xem như là một công cụ hữu hiện mang lại thành công cho các DN trong lĩnh vực sản xuất cũng như lĩnh vực dịch vụ. Theo American Heritage Dictionary thì logistics có hai nghĩa: Logistics là một lĩnh vực hoạt động của quân đội, liên quan đến việc thu mua, phân phối, bảo quản và thay thế các thiết bị cũng như con người. Hoặc logistics là việc quản lý các chi tiết của quá trình hoạt động. Theo Hội đồng Quản trị Logistics Hoa Kỳ (1988) thì logistics là một phần của chuỗi cung ứng, thực hiện hoạch định, thực hiện và kiểm soát dòng lưu chuyển, tồn trữ hàng hóa, dịch vụ và thông tin có liên quan một cách hiệu quả từ điểm đầu đến điểm tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Cùng với sự phát triển của logistics sẽ xuất hiện thêm nhiều khái niệm mới về logistics. Tuy nhiên, khái niệm logistics sau được cho là phù hợp nhất trong thời điểm hiện nay. ‘‘Logistics là quá trình tối ưu hóa về địa điểm và thời điểm, tối ưu hóa việc lưu chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ đầu vào nguyên thủy cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí thích hợp, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế’’ Đoàn Thị Hồng Vân (2010, trang 31-32)[14]. Dịch vụ logistics Ngành ngoại thương và nội thương VN từ thời kỳ đầu những năm 1970, Bộ Ngoại thương đã thành lập Cục Kho vận kiêm Tổng Công ty Giao nhận Ngoại thương, công tác giao nhận ngoại thương tập trung duy nhất vào một công ty Nhà nước đảm nhận, bên cạnh đó còn có các công ty Nhà nước về vận tải.Năm 1979, Bộ Nội thương cũng thành lập Cục 16 Kho vận và các Công ty Kho vận nội thương I và II, quản lý và thực hiện các công tác vận tải, kho, giao nhận hàng hóa trong nước.
Như thế, ngành logistics VN ra đời từ những năm 70 của thế kỷ 20 không chậm nhiều so với các nước trong khu vực. Năm 1997, Luật Thương mại VN thể chế hóa dịch vụ giao nhận hàng hóa tại điều 163 đến 171 (Luật Thương mại, 1997)[9], dịch vụ giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác. Luật Thương mại 2005 ra đời, tại Điều 233 đến 240, lần đầu tiên dịch vụ logistics xuất hiện trong luật, ngành giao nhận kho vận đã phát triển lên tầm cao mới, được bao hàm trong dịch vụ logistics, nhưng cũng có thể hiểu khác hơn là sự ra đời của một ngành dịch vụ mới mẻ bao gồm nhiều lĩnh vực, chứ không chỉ đơn thuần là giao nhận và kho vận. Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các giấy tờ thủ tục khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.
Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc (Luật Thương mại, 2005)[10]. Tuy nhiên, quan điểm này bị nhiều chuyên gia cho rằng đã quá lỗi thời vì logistics giờ đây không chỉ đơn thuần là các dịch vụ giao nhận, vận tải nữa mà nó đã trở thành một ngành dịch vụ tích hợp nhiều hoạt động có giá trị gia tăng cao. Logistics hiện nay đã trực tiếp tham gia vào việc lập kế hoạch, triển khai, quản lý các nguyên liệu đầu vào từ quá trình sản xuất tới việc lưu thông, bảo quản, đưa tới tận tay người tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. 17 Để chi tiết hóa Luật Thương mại, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 140/2007/NĐ- CP ngày 05/09/2007[2] về việc quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics.