chương 1 tác giả nhận định về ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa lý thuyết của luận văn cùng kết cấu của toàn bài có 5 chương chính và các phần hỗ trợ tạo nên cấu trúc hoàn chỉnh của luận văn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm là một phạm trù phức tạp mang ý nghĩa về kinh tế – xã hội mang tính trừu tượng. Dưới mỗi góc độ nhìn nhận khác nhau, ta có quan niệm về CL sản phẩm khác nhau.
Theo quan điểm của nhà sản xuất thì: Những sản phẩm được tạo ra đảm bảo CL khi thỏa mãn một tập hợp những tiêu chí, thước đo, tiêu chuẩn, quy cách được đặt ra từ tước. Dưới góc độ của TT thì CL sản phẩm là sự phù hợp với mục đích và yêu cầu của người sử dụng. Còn theo cách tiếp cận của người tiêu dùng, CL sản phẩm là sự phụ hợp của sản phẩm với mục đích của người tiêu dùng hay nói cách khác là thỏa mãn nhu cầu của KH. Theo Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (International Organization for Standardization – ISO) định nghĩa trong ISO 9000 thì chúng ta hiểu về CL sản phẩm cụ thể như sau: "Chất lượng là tập hợp các tính năng của sản phẩm có khả năng đáp ứng nhu cầu (mong muốn) của người tiêu dùng và mang lại sự HL cho khách bằng cách cải tiến sản phẩm (hàng hóa) và làm cho chúng không có bất kỳ khiếm khuyết hoặc khiếm khuyết nào.
Khái niệm về sự hài lòng khách hàng Sự HL là một khái niệm không mấy xa lạ với chúng ta trong đời sống hàng ngày. Một người bỏ tiền ra mua một món hàng hoặc sử dụng một DV nào đó, họ thường được phía bán hàng quan tâm xem người mua ấy có HL không. Một nhà tuyển dụng trả tiền lương cho nhân viên, họ cũng được quan tâm xem họ có HL về nhân viên ấy hay không. Một cách giản đơn người ta có thể hiểu được phần nào mức độ HL của KH bằng cách nhờ KH trả lời có hoặc không có sự HL.
Song phức tạp hơn người ta có thể gửi đến KH nhiều câu hỏi có liên quan để khai thác về mức độ HL của KH. Nhìn dưới góc độ khoa học, tác giả hệ thống hóa lại một số các 10 quan điểm về sự HL của KH mà các tác giả nổi tiếng đã từng quan niệm và NC phát triển như sau đây. Nghiên cứu của nhóm tác giả Tse và Wilton năm 1988 đã cho rằng sự HL như là một sự phản ứng tích cực từ phía KH khi họ nhận ra rằng những gì họ nhận được là hơn những gì họ mong đợi hoặc hình dung trước đó. Như vậy theo nhóm NC này, có những sự so sánh giữa kết quả của hai thời điểm khác nhau trong tiến trình KH trải nghiệm và nhận xét về giá trị của những trải nghiệm sản phẩm hoặc DV đó.
Điều này cũng có nghĩa là người NC không thể tiến hành NC đối với những người chưa thực sự có trải nghiệm thực tế đối với một sản phẩm hay DV nào đó. Trước đó, vào năm 1995, Bachelet cũng đã có NC và đề cập đến sự HL của KH như là một loại cảm xúc. Cũng trong năm 1995, nhóm NC gồm Oliva, Bearden và William lại đặt nhiệm vụ của nhà cung cấp làm trọng tâm khi nói đến sự HL của KH như là trách nhiệm của DN phải làm sao để những sản phẩm và DV mà DN mang lại phải bảo đảm kỳ vọng của KH và bảo đảm những gì mà phía DN đã cam kết. Tương đồng với nhóm tác giả Tse và Wilton, Bachelet cho rằng việc thể hiện mức độ HL như là một phản ứng sau khi KH trực tiếp được cảm nhận về sảm phẩm, DV.
Đến năm 1997, Oliver tiếp tục NC về sự HL của KH dưới góc nhìn là nhu cầu của KH đã được đáp ứng ở mức độ nào và sự HL như là phản ứng của KH về các mức độ đáp ứng nhận được từ nhà cung cấp. Năm 2001, Philip Kotler tiếp tục NC về khái niệm HL và cũng có nhận định tương tự khi đem so sánh giữa những gì diễn ra trong thực tế mà KH có được so với những gì kỳ vọng trước đó. Trong đó Kotler phân thành nhiều mức độ khác nhau từ mức thấp nhất là không HL đến mức HL và rất HL. Mặc dù có nhiều cách phát biểu khác nhau khi đề cập đến khái niệm sự HL của KH, nhưng có thể nói tựu trung thì sự HL của KH đó là một sự lợi ích mà nhà cung cấp phải có trách nhiệm mang lại cho người tiêu dùng sau khi người tiêu dùng 11 đã bỏ ra một khoản chi phí.
Sự HL không đong đếm được một cách trực tiếp nhưng nó có giá trị rất lớn trong việc giữ chân KH và nó tạo ra một YT cạnh tranh giữa các DN cùng kinh doanh một loại hình sản phẩm, DV giống nhau. Có một khái niệm có nhiều ý nghĩa thực tế tương đồng với sự HL đó chính là cảm nhận về chất lượng DV. Có một số tác giả NC cho rằng chất lượng DV cũng chính là sự HL. Nhưng tác giả cho rằng chất lượng DV không phải là sự HL, chất lượng DV là một nhân tố tạo nên sự HL.
Nhóm NC Cronin và Taylor (1992) cũng cho rằng giữa chất lượng DV và sự HL của KH có mối liên hệ nhân quả chặt chẽ với nhau. Lassar (2000) nhận định rằng còn quá ít các công trình NC nói về những thành phần của chất lượng DV tác động đến mức độ HL của KH ra sao. Theo đó, Võ Khánh Toàn (2008) trong NC về mối quan hệ giữa chất lượng DV với giá cả và sự HL của KH đã bổ sung thêm kết quả về mối liên hệ này. Khái niệm về sản phẩm khí và đặc điểm liên quan Khí trong phạm vi đề tài NC này được hiểu là khí thiên nhiên.4 mục 1, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01:2019/BCA ban hành kèm theo Thông tư 52/2019/TT-BCA định nghĩa: "Khí thiên nhiên (Natural gas) là hỗn hợp của hyđrôcacbon có thành phần chính là khí mêtan (CH4) với hàm lượng đến 98%.
Trong thành phần của khí thiên nhiên còn có các hyđrôcacbon khác như etan, prôpan, butan." Khí thiên nhiên được dùng phổ biến rộng rãi trên thế giới, cung cấp khoảng 25% năng lượng trong mọi lĩnh vực. Ở Việt Nam, khí thiên nhiên hiện đang được cung cấp dưới 2 phương thức với thành phần khí không đổi: (1) thông qua hệ thống đường ống, với áp suất dưới 49 barg gọi là khí thấp áp và (2) được nén với áp suất cao, cung cấp thông qua hệ thống xe bồn gọi là CNG. Khí thấp áp có nhiều lợi thế vượt trội về phương diện công nghệ, môi trường và kinh tế so với các nhiên liệu truyền thống khác. Về phương diện công nghệ: Khí thấp áp có nhiệt trị lớn, hiệu suất đốt cháy cao, dễ dàng điều chỉnh nhiệt độ buồng đốt, công tác vận hành, bảo dưỡng hệ thống 12 dễ dàng.
Nhiệt trị của khí thấp áp được cung cấp bởi CTY trong dải từ 35- 47 MJ/Sm3. Về phương diện môi trường: Sử dụng khí thấp áp sẽ giảm thiểu được tác động ô nhiễm môi trường, hàm lượng khí thải COx, SOx và NOx ở mức thấp hơn nhiều so với đốt cùng một lượng nhiên liệu khác. Trong các loại nhiên liệu hóa thạch, khí thiên nhiên là loại nhiên liệu thân thiện nhất với môi trường. Về phương diện kinh tế: Khí thấp áp ở Việt Nam cạnh tranh về giá bán so với các nhiên liệu truyền thống khác như DO, FO, LPG (tính theo đơn vị nhiệt lượng).
Mặt khác, sử dụng khí thấp áp làm nhiên liệu sẽ giảm đáng kể chi phí đầu tư cho kho bãi, bể chứa và chi phí bảo trì, bảo dưỡng cũng như tăng tuổi thọ của máy móc, thiết bị. Sản phẩm khí được KH tiêu thụ để làm nguyên liệu hoặc nhiên liệu. KH sử dụng khí dưới dạng nguyên liệu chủ yếu là các nhà máy sản xuất H2 (tách từ các hydrocarbon trong khí) hoặc nhà máy sản xuất polime, propylen… Phần lớn các KH tiêu thụ khí để làm nhiên liệu, phục vụ mục đích gia nhiệt (nhà máy thép, gạch men, gốm sứ, kính, thủy tinh…), tạo hơi (nhà máy thực phẩm, hóa chất,…). Một bộ phận nhỏ các khách hàng cá nhân sử dụng khí để làm nhiên liệu đốt tại bếp ăn gia đình (khí đô thị), tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có loại hình này.
Tóm lại, các KH của CTY hoàn toàn là đối tượng khách hàng DN, đây cũng là đối tượng phục vụ cho NC này. Các lý thuyết nền của đề tài 2. Mô hình đánh giá chất lượng chức năng (Functional Service Quality – FSQ) và chất lượng kỹ thuật (Technical Service Quality – TSQ) (Grönroos, 1984) Chất lượng là một nhân tố tạo nên sự HL. Trong NC vào năm 1984 của Grönroos đã chỉ ra có 3 khía cạnh CL gồm CL chức năng, CL kỹ thuật và mức độ danh tiếng của DN.
Từ ba khía cạnh này, Grönroos đã thiết lập một mô hình gọi tắt là mô hình FTSQ được trình bày tại hình 2. Mô hình FTSQ (Gronroos) Nguồn: Gronroos (1984). Mô hình này được phân thành ba cấp. Cấp thứ nhất mô tả về CL kỹ thuật và CL chức năng.
Cấp thứ hai là trung gian thể hiện hình ảnh DN và cấp thứ ba gồm có sự cảm nhận của KH trên cơ sở KH nghe được những thông tin trước đó để hình thành những kỳ vọng và đưa ra sự cảm nhận thực sự sau khi trực tiếp sử dụng các sản phẩm và DV của DN. Chất lượng kỹ thuật tập trung vào các vật chất hữu hình để trả lời cho câu hỏi DN sử dụng những gì để tham gia vào quá trình phục vụ KH và tạo sản phẩm đem đến KH. Chất lượng chức năng tập trung vào giải quyết vấn đề DN làm như thế nào, áp dụng những quy trình gì để đưa vào phục vụ KH. Hình ảnh DN là quá trình mà DN thực hiện quảng bá và truyền thông để KH có những hiểu biết về DN và hình thành nên một lòng tin, một sự trung thành với DN đó.
Quá trình thực hiện các hoạt động marketing cũng sẽ giúp cho KH cảm thấy được chăm sóc. Để có được sự HL từ KH thì DN phải thực sự cung cấp các sản phẩm và DV đúng với truyền thông. Mô hình SERVQUAL (Parasuraman, 1988) Năm 1988, Parasuraman đề xuất một mô hình NC với 22 câu hỏi để hình thành nên 5 YT để đo lường CL cảm nhận được. Mô hình gồm có 5 YT là Tin tưởng (Reliability), Phản hồi (Responsiness), Đảm bảo (Assurance), Cảm thông (Empathy), Hữu hình (Tangibility).