LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngân hàng là một trung gian tài chính quan trọng trong sự vận động của nền kinh tế, của các hoạt động xã hội.Các ngân hàng thương mại (NHTM) từ trước đến nay luôn cạnh tranh nhau quyết liệt trong hoạt động tín dụng và huy động vốn.Tại Việt Nam, số lượng ngân hàng vẫn luôn gia tăng qua các năm.Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tính đến 30/06/2018, có 49 ngân hàng đang hoạt động bao gồm 4 ngân hàng nhà nước, 31 ngân hàng TMCP, 9 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 2 ngân hàng liên doanh, 2 ngân hàng chính sách và 1 ngân hàng hợp tác xã.Các ngân hàng đang không ngừng mở rộng hệ thống kênh phân phối, quảng bá thương hiệu để thu hút khách hàng.Trong bối cảnh cạnh tranh như ngày nay, đặc biệt khi thời kỳ công nghệ 4.0 đang phát triển mạnh mẽ, giá dịch vụ không còn là yếu tố cạnh tranh giữa các ngân hàng theo quan niệm truyền thống như trước đây nữa. Dịch vụ khách hàng và công nghệ mới đang là yếu tố cạnh tranh chính mà các ngân hàng đang hướng đến. Ngày nay, khách hàng có nhiều quyền lực hơn.
Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, khi thu nhập của khách hàng tăng cao hơn nhiều so với trước đây, họ đòi hỏi những yêu cầu cao hơn về chat lượng dịch vụ (CLDV). Ai cũng mong muốn đồng tiền bỏ ra phải nhận được những gì xứng đáng nhất, từ những dịch vụ nhỏ nhất như chỗ gửi xe, chỗ ngồi, đến các hoạt động nghiệp vụ như mở thẻ, khóa thẻ, gửi hoặc rút tiết kiệm, nộp tiền, vay vốn, trả nợ đến internet banking, mobile banking, chăm sóc khách hàng hay những dịch vụ đặc thù cho doanh nghiệp như phát hành bảo lãnh, mở L/C, chuyên tiền bằng điện, ngoại hối, vay vốn kinh doanh,.Các khách hàng đều mong muốn các dịch vụ phải được thực hiện nhanh nhất, chính xác nhất và đặc biệt là tính an toàn bảo mật thông tin. Hơn nữa, khách hàng ngày nay là những người sử dụng thông minh. Họ dễ dàng tiếp cận với nhiều nguồn thông tin tham khảo thông qua nhiều hình thức truyền thông như qua lời nói, mang xã hội, internet,.Theo một số kết quả khảo sat về thị trường gần đây cho thấy, mức độ trung thành của khách hàng ngày càng thấp do họ có nhiều sự lựa chọn hơn.
Điều nay có thể hiểu được vì các NHTM cung cấp các sản phẩm dịch vụ hầu hết là giống nhau nên khách hàng có thé dé dàng lựa chọn và thay đôi sử dung dịch vụ ngân hàng nào mà họ cảm thấy thích. Vì vậy, dé được khách hàng lựa chọn và gắn bó, doanh nghiệp cần phải quan tâm đến các khách hàng nhiều hơn. SV: Nguyễn Phương Hoa 1 MSV: 11161885 Chuyên dé tot nghiệp GVHD: PGS. Cao Thị Ý Nhi Mỗi cá nhân, mỗi tổ chức có thé là khách hàng của nhiều ngân hàng.
Thực tế hiện nay, có nhiều dịch vụ ngân hàng đã và đang làm hài lòng người dùng và họ rất sẵn sảng gắn bó lâu dài hoặc giới thiệu người thân, bạn bè cùng sử dụng. Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta vẫn thấy những không ít những thông tin mà người dùng phải bức xúc với CLDV. Vẫn còn hàng loạt các vụ cướp tài sản trong ngân hàng, nhân viên ngân hàng chiếm đoạt tiền tiết kiệm, mất tiền trong tài khoản. Đặc biệt, các vấn đề liên quan đến dịch vụ online, chuyên nhận tiền online bị chậm hoặc không gửi được, thông báo số dư tự động, rồi dich vụ đường dây nóng nhưng gọi cả chục cuộc điện thoại vẫn không gặp được tổng đài viên,.xảy ra thường xuyên làm cho người dùng giảm dần niềm tin.
Trong những năm vừa qua, chi nhánh Hoàn Kiếm đã va đang đây mạnh gia tăng lượng khách hàng sử dụng mới và tiếp tục chăm sóc các khách hàng cũ. Tuy nhiên, lượng khách hàng trung thành thường xuyên sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đang chiếm tỷ trọng rất thấp, chỉ khoảng 4%. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thay đôi hành vi của khách hàng như khách hang không được chăm sóc đúng khi có nhu cầu, nhân viên tư vấn chưa tốt, nhân viên thân thiết nghỉ việc, sản phẩm dịch vụ của đối thủ cạnh tranh tốt hơn,.Số lượng khách hàng thực sự giao dịch với ngân hàng chiếm tỉ lệ quá thấp so với số lượng tài khoản và thẻ đã được mở còn gây lãng phí thời gian lao động và công tác quản lý. Chi nhánh cần có những chiến lược về hoạt động chăm sóc khách hàng nhiều hơn nữa dé tạo niềm tin tưởng va sự gan bó lâu dài với người sử dụng.
Nhận thấy vấn đề thực tế nói trên cùng với những kiến thức đã được học tại nhà trường, em xin chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong chi nhánh Hoàn Kiếm”. Mục đích nghiên cứu - _ Hệ thống kiến thức liên quan đến khách hàng của ngân hàng va vai trò quan trọng của dịch vụ chăm sóc khách hàng, các hoạt động chăm sóc khách hàng. - Phan tích, đánh giá thực trạng về chất lượng dịch vụ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong chi nhánh Hoàn Kiếm dé tìm ra những kết qua đạt được, những hạn chế gặp phải và những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó. - Dua ra một số giải pháp nhằm nâng cao chat lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong chi nhánh Hoàn Kiếm.
SV: Nguyễn Phương Hoa 2 MSV: 11161885 Chuyên dé tot nghiệp GVHD: PGS. Cao Thị Ý Nhi 3. Phuong pháp nghiên cứu Tác giả đã dùng phương pháp phân tích mô tả, được thực hiện dựa trên kết quả dùng bảng câu hỏi chi tiết dé khảo sát từ những khách hang đã và dang sử dụng dich vụ tại Ngân hàng Tiên Phong nói chung và tại chỉ nhánh Hoàn Kiếm nói riêng. Hình thức khảo sát bao gồm đưa giấy khảo sát trực tiếp cho khách hàng trong lúc khách hàng chờ giao dịch và tạo bảng khảo sát trực tuyến trên các trang mạng xã hội.
Từ dữ liệu khảo sát thu thập được, tác giả tiến hành chạy SPSS để phân tích thống kê mô tả, phân tích nhân tô và phân tích hồi quy bội. Dữ liệu thống kê sử dụng trong chuyên dé này gồm: dữ liệu sơ cấp va dữ liệu thứ cấp. Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ phiếu khảo sát khách hàng. Dữ liệu thứ cấp được thu thập qua các nguồn thông tin từ sách, các bài nghiên cứu có liên quan đến đề tài, báo cáo thường niên của Ngân hàng Tiên Phong, các trang web, bài báo khác,.
SV: Nguyễn Phương Hoa 3 MSV: 11161885 Chuyên dé tot nghiệp GVHD: PGS. Cao Thị Ý Nhi PHAN I: CƠ SỞ LÝ THUYET DỊCH VU CHAM SOC KHACH HANG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Khách hàng và vai trò của khách hang đối với ngân hàng 1. Khái niệm về khách hàng Trải qua hàng trăm, hàng nghìn năm trái đất phát triển, con người cũng phát triển và cho ra đời vô vàn các nghiên cứu, công trình to lớn, trong đó không thé không kê đến các khái niệm, các định nghĩa về khách hàng mà rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra: Theo ông Tom Peters — một nhà văn đến từ Mỹ chuyên viết về các hoạt động quan tri kinh doanh: “Khách hang là tài san làm tăng thêm giá trị.
Va di nhiên nó là tài sản quan trọng nhất mặc dù giá trị của họ không được ghi nhận trong báo cáo công ty. Vậy nên các công ty cần luôn luôn xem khách hàng như là nguồn vốn cần được quản lý và không ngừng huy động vốn”. Doanh nhân Wal-Mart thì cho rằng: “Khách hàng là người không phụ thuộc vào chúng ta mà là ngược lại. Vậy nên khách hàng không đi tìm chúng ta, chúng ta phải đi tìm họ.
Bán thứ khách hàng cần chứ không phải thứ ta có”. Đối với ngân hàng thương mại, khách hàng là tập hợp những cá nhân riêng lẻ hay các tô chức có mong muốn, đang nảy sinh những ý định sử dụng sản pham dịch vụ từ ngân hàng thương mại cung cấp. Những người muốn đến giao dịch, sử dụng sản phẩm, dịch vụ về tài chính, tiền tệ, sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản,.thì đều là những cá thể, những pháp nhân mà ngân hàng thương mại đang nhắm tới. Phân loại khách hàng o Đa số các ngân hàng thường chia ra thành hai loại khách hàng là: khách hàng cá nhân (KHCN) và khách hàng doanh nghiệp (KHDN).
- - KHCN là tập hợp tat cả các cá nhân, các hộ gia đình có mong muốn dùng dich vụ của ngân hàng. Một đất nước với dân số vô cùng déi dào, con số hơn 90 triệu din đang là một thi phần vô cùng tiềm năng cho các ngân hàng thương mại khai thác và đem các sản phẩm, dịch vụ luôn trong trạng thái tốt nhất và luôn sẵn sàng đến cho mọi người. Một trong những KHCN mà thường mọi người không dé ý tới đó chính là những người sở hữu doanh nghiệp, họ có quyền quyết định các dòng tiền chảy vào và chảy ra của công ty, tổ chức. Nói SV: Nguyễn Phương Hoa 4 MSV: 11161885 Chuyên dé tot nghiệp GVHD: PGS.
Cao Thị Ý Nhi đến nhu cầu, ta phải ké đến các nhu cầu sau đây của một KHCN: Gửi tiết kiệm, mua bán vàng, ngoại tệ, vay mua ô tô, mua bất động sản, vay tiêu dùng, mở thẻ, dịch vụ Internet Banking, SMS Banking, Mobile Banking,. KHCN có những đặc điểm sau: - Nhu cầu của mỗi cá nhân không lớn nhưng số lượng KHCN rat lớn - Có nguồn tiền nhàn rỗi, nhu cầu gửi tiết kiệm dé hưởng lãi hoặc dự phòng chỉ tiêu cho các nhu cầu sắp tới - Hoạt động mang tính thời điểm cao ví dụ như là khi có chương trình khuyến mãi, ưu đãi thì sự ra quyết định sẽ nhanh hơn - Sự lựa chọn của KH thường mang tính chất cảm tính, chủ quan và thụ động, thường theo xu hướng đám đông. Nguyên nhân cũng là do khả năng phân tích không dựa trên sự khoa học, thông tin nhiều khi chỉ là do truyền miệng.Do đó mà việc chăm sóc và làm hài lòng KHCN là vô cùng quan trọng. KHDN (KHDN) là những tổ chức, công ty có nhu cầu sử dụng sản pham dich vụ của ngân hàng.
Các sản phẩm dich vụ mà các Doanh nghiệp quan tâm nhất như là tài khoản thanh toán, phát hành séc, UNT, UNC, cho vay bồ sung vốn lưu động, đầu tư tài sản cô định, bảo lãnh, thâu chi, mở L/C, thanh toán quốc tế,.KHDN thường được chia thành 2 loại là Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) và Doanh nghiệp lớn (MMLC).