MỞ ĐẦU. 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THUẾ ĐIỆN TỬ. Tổng quan về dịch vụ thuế điện tử. Khái niệm, đặc trƣng, vai trò của thuế.
Dịch vụ thuế điện tử. Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng đối với dịch vụ thuế điện tử. Các mô hình nghiên cứu về sự hài lòng. Các nhân tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng đối với dịch vụ thuế điện tử của doanh nghiệp.
25 TÓM TẮT CHƢƠNG 1. 29 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ THUẾ ĐIỆN TỬ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI. Tổng quan dịch vụ thuế điện tử ở Việt Nam. Quá trình hình thành dịch vụ thuế điện tử tại Việt Nam.
Quá trình triển khai dịch vụ thuế điện tử tại Việt Nam và kết quả ban đầu 35 2. Thực trạng dịch vụ thuế điện tử trên địa bàn Hà Nội. Đánh giá thực trạng dịch vụ thuế điện tử trên địa bàn Hà Nội. Kết quả đạt đƣợc.
52 TÓM TẮT CHƢƠNG 2. 54 CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Thiết kế nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Quy trình nghiên cứu. Thiết kế bảng câu hỏi. Thiết kế thang đo. Mẫu nghiên cứu.
Thực hiện nghiên cứu định lƣợng. 64 TÓM TẮT CHƢƠNG 3. 68 CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Kết quả nghiên cứu.
Kết quả thống kê mô tả. Đánh giá thang đo. Phân tích nhân tố khám phá EFA. Kiểm định tƣơng quan Person.
Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến. Kiểm tra các giả định của mô hình hồi quy. 81 TÓM TẮT CHƢƠNG 4. 82 CHƢƠNG 5: KHUYẾN NGHỊ CẢI THIỆN MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA DOANH NGHIỆP SỬ DỤNG DỊCH VỤ THUẾ ĐIỆN TỬ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI.
Đánh giá kết quả nghiên cứu. Khuyến nghị cải thiện sự hài lòng đối với dịch vụ thuế điện tử của doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội. Khuyến nghị đối với doanh nghiệp. Khuyến nghị đối với Tổng cục thuế.
Khuyến nghị đối với Bộ Tài chính. Khuyến nghị đối với Ngân hàng nhà nƣớc. 94 TÓM TẮT CHƢƠNG 5. 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
98 v DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 3.1: Các thang đo nghiên cứu đánh giá sự ảnh hƣởng của các nhân tố đến sự hài lòng khi sử dụng dịch vụ thuế điện tử của doanh nghiệp .2: Kết quả tổng hợp số lƣợng phiếu khảo sát phục vụ nghiên cứu .1: Kết quả thống kê mô tả các biến quan sát .2: Kết quả thống kê mô tả các nhân tố .1: Tổng hợp kiểm định các giả thuyết. 88 DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1: Mô hình năm khoảng cách của Parasuraman (1988). 7 Hình 2: Mô hình SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1988) .1: Quy trình thực hiện kê khai thuế theo phƣơng pháp truyền thống .2: Giao diện khi đăng nhập vào dịch vụ thuế điện tử tại website thuedientu.3: Biểu đồ thống kê tình hình triển khai dịch vụ thuế điện tử tại Việt Nam từ tháng 12/2017 đến tháng 02/2020 .4: Thống kê số lƣợng doanh nghiệp tham gia dịch vụ khai thuế điện tử và dịch vụ nộp thuế .1: Quy trình nghiên cứu .2: Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia khảo sát theo quy mô .3: Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia khảo sát theo loại hình .4: Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia khảo sát theo tần suất sử dụng internet để giải quyết các vấn đề liên quan đến thuế .4: Biểu đồ tần số của các phần dƣ Histogram .5: Biểu đồ Scatter Plot kiểm tra giả định liên hệ tuyến tính. Lý do lựa chọn đề tài Thuế là một khoản nộp ngân sách nhà nƣớc bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế.
Thuế đƣợc coi là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nƣớc, là công cụ quan trọng để nhà nƣớc điều tiết nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy đầu tƣ, kiềm chế lạm phát, bảo hộ nền sản xuất trong nƣớc, hƣớng dẫn sản xuất và tiêu dùng, phân phối lại của cải, thu nhập trong xã hội. Do đó, tuân thủ thuế là điều tối quan trọng đối với chính phủ mỗi quốc gia, bởi khi ngƣời nộp thuế tuân thủ và nộp đủ số tiền thuế đúng hạn thì Chính phủ mới có thể đảm bảo ngân sách để cung cấp những hàng hóa công cộng và phân bổ nguồn lực hợp lý (Night & Bananuka 2018). Tuy nhiên, thực trạng quản lý thuế theo phƣơng thức truyền thống còn tồn tại nhiều bất cập cần giải quyết tại hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới. Một số vấn đề, sai phạm mang tính thƣờng gặp nhƣ: Nhiều đơn vị chƣa kê khai hoặc kê khai không đầy đủ các khoản thuế từ hoạt động kinh doanh; một số đối tƣợng nộp thuế chƣa tuân thủ pháp luật trong kê khai, nộp thuế; chất lƣợng công tác thanh, kiểm tra còn hạn chế, còn bỏ sót một số sai phạm của doanh nghiệp trong kê khai doanh thu, chi phí, thuế giá trị gia tăng đầu vào, áp dụng không đúng thuế suất thuế giá trị gia tăng, kê khai ƣu đãi và miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp không đúng quy định,… Một số đối tƣợng nộp thuế chƣa tuân thủ đúng pháp luật trong kê khai, nộp thuế, dẫn đến nguồn thu ngân sách nhà nƣớc không đƣợc nộp đầy đủ và kịp thời.
Công tác điều hành, quản lý thu tiền thuê đất, tiền sử dụng đất tại một số địa phƣơng chƣa đảm bảo quy định của Nhà nƣớc; đồng thời việc thực hiện các quy định của Nhà nƣớc trong lĩnh vực này còn bất cập, chƣa đồng bộ, dẫn đến huy động không đầy đủ, kịp thời nguồn thu vào ngân sách nhà nƣớc, nhƣ xác định miễn giảm thuế đối với thu nhập từ hoạt động chuyển quyền sử dụng đất, chuyển 2 quyền thuê đất, áp sai giá đất, xác định không đúng hệ số tính giá thuê đất, ƣu đãi đầu tƣ sai, thời điểm áp dụng văn bản tính thuế không phù hợp làm thất thu thuế.; Công tác hoàn thuế, xoá nợ và miễn giảm thuế sai quy định; xác định số nợ đọng thuế chƣa đầy đủ; Thủ tục kê khai thuế rƣờm rà, phức tạp, doanh nghiệp cần thực hiện ở nhiều cửa, mất nhiều thời gian để xử lý. Hiện nay, rất nhiều quốc gia đã và đang triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu. Từ đó đã hình thành và phát triển nên hệ thống thuế điện tử và việc áp dụng thuế điện tử đã trở thành phổ biến đối với cả cơ quan thuế và các doanh nghiệp trong thực hiện nghĩa vụ về thuế. Việc áp dụng thuế điện tử không chỉ giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, mà còn cải thiện mức độ tuân thủ (Night & Bananuka 2018).
Nghiên cứu của Motwani và cộng sự (2015) đã khẳng định việc áp dụng thuế điện tử thông qua kê khai thuế điện tử và thanh toán thuế điện tử làm tăng tính tuân thủ thuế. Tƣơng tự, kết quả nghiên cứu về tuân thủ thuế của Muturi và Kiarie (2015) cũng chỉ ra rằng có việc áp dụng thuế điện tử thông qua đăng ký thuế điện tử, khai thuế điện tử và nộp thuế điện tử có tác động mạnh mẽ và tích cực tới tuân thủ thuế của ngƣời nộp thuế. Sau một thời gian triển khai và đƣa vào sử dụng dịch vụ thuế điện tử, tình hình quản lý thuế tại Việt Nam có nhiều sự thay đổi tích cực hơn. Trong đó, Hà Nội – thủ đô của Việt Nam luôn là một trong những tỉnh, thành phố đi đầu cả nƣớc về tổng thu thuế và công tác thực hiện, tuân thủ các quy định, chính sách của ngành thuế.
Vì vậy, nghiên cứu nhân tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng đối với dịch vụ thuế điện tử của doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội là sự cần thiết để đánh giá nỗ lực cải thiện của Chính phủ và các bộ, ban, ngành trong thời kỳ phát triển mới, đồng thời cơ quan ban hành cũng có cơ hội để điều chỉnh, đƣa ra chính sách phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp. Tổng quan nghiên cứu 2. Các công trình nghiên cứu trong nƣớc Tác giả Lê Thị Kim Anh đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp về chất lƣợng dịch vụ nộp thuế điện tử tại Chi cục Thuế thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên trong “Sự hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng dịch vụ nộp thuế điện tử - Nghiên cứu tại Chi cục thuế thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên” trên tạp chí Công thƣơng, từ đó nắm bắt đƣợc các yếu tố tác động tới chất lƣợng dịch vụ và sự hài lòng của ngƣời nộp thuế về dịch vụ nộp thuế điện tử trên địa bàn và làm tài liệu tham khảo để Cục Thuế tỉnh Phú Yên và Chi cục Thuế các huyện đánh giá chất lƣợng dịch vụ nộp thuế điện tử dựa trên mô hình nghiên cứu của đề tài, kết hợp với điều kiện đặc trung của từng cơ quan thuế. Chi cục Thuế thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên là một trong những thị xã, huyện thuộc địa bàn tỉnh Phú Yên triển khai sớm dịch vụ nộp thuế điện tử để thực hiện tốt công tác quản lý thuế các doanh nghiệp trên địa bàn, vì vậy, Cục thuế có cơ sở đƣa ra những giải pháp sửa đổi, bổ sung cho phù hợp nhằm nâng cao chất lƣợng dịch vụ nộp thuế điện tử, góp phần nâng cao sự hài lòng của ngƣời nộp thuế đối với cơ quan thuế.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có 4 yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp theo thứ tự mức độ ảnh hƣởng từ lớn đến nhỏ là Đƣờng truyền, Hiệu quả, Ứng dụng (Tính sẵn có của hệ thống), Bảo mật, Phản hồi đồng thời đề cập đến các giải pháp để cải thiện sự hài lòng của từng nhân tố. Trong khi đó, nghiên cứu “Đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng dịch vụ kê khai thuế qua mạng tại Chi cục Thuế khu vực Bình Thủy - Ô Môn” của tác giả Nguyễn Trần Mẫn và Nguyễn Chí Tâm tập trung vào mức độ hài lòng của ngƣời khai thuế về chất lƣợng dịch vụ kê khai thuế qua mạng tại Chi cục Thuế khu vực Bình Thủy - Ô Môn. Tác giả nhận thấy rằng, với hơn 1.