Chương 1 đã trình bày tổng quan về cơ sở hình thành, mục tiêu, phạm vi, phương pháp và ý nghĩa của việc nghiên cứu. Chương 2 nhằm hệ thống cơ sở lý thuyết về dịch vụ điện tử, sự hài lòng và tổng hợp một số nghiên cứu trước đây. Từ những cơ sở lý thuyết này, mô hình nghiên cứu được hình thành 2. Tổng quan về dịch vụ điện tử 2.
Khái niệm về dịch vụ điện tử Luan van 9 2. Đặc điểm của dịch vụ điện tử Trong phần này, tác giả thảo luận các đặc điểm của dịch vụ điện tử, các đặc. điểm này được thường có mối liên hệ với các đặc điểm của các dịch vụ đã được rút. ra từ các nghiên cứu trước đây.
Cụ thể như sau: - Tính vô hình Các dịch vụ điện tử được nghiên cứu bởi Jarvinen & Lehtinen (2004) và được. chứng minh là vô hình trong tự nhiên. Ngoài ra, Hofacker, et al. (2007), nói rằng các dịch vụ điện tử ít hữu hình hơn các dịch vụ giao hàng khác.
Trong một số trường hợp, tính hữu hình của dịch vụ điện tử tăng lên như dịch vụ giao đồ ăn, thực phẩm được đặt hàng trực tuyến sau đó giao cho khách hàng, dịch vụ trở nên hữu hình hơn trong bước thứ hai. - Tính đồng nhất Dịch vụ không thể được cung cấp đồng đều, tập trung như sản xuất hàng hóa. Do đó, rất khó để các nhà cung cấp kiểm tra chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất. Mặt khác, nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các kỹ năng và thái độ của nhà cung cấp dịch vụ.
Sức khỏe, sự nhiệt tình của các nhà cung cấp dịch vụ vào buổi sáng và buổi chiều có thể khác nhau. Do đó, rất khó để đạt được chất lượng phù hợp trong một ngày. Càng nhiều người phục vụ dịch vụ, càng khó đảm bảo chất lượng ổn định. Luan van 10 Tuy nhiên, đối với các dịch vụ điện tử vì các dịch vụ được cung cấp qua internet và máy tính được lập trình thông qua các phân khúc cụ thể, chúng bao gồm các yếu tố rất chuẩn và không cho phép có sự biến đổi từ nhân viên.
Như vậy, sự không đồng nhất gần như biến mất khỏi các dịch vụ điện tử. Đây cũng là điểm khác. biệt lớn nhất giữa dịch vụ và dịch vụ điện tử. - Tính không dự trữ (không tồn kho): Dịch vụ thuế điện tử được thực hiện trên môi trường mạng ảo vì vậy không có tính tồn kho.
- Bản quyền dịch vụ: Các dịch vụ thuế điện tử đều được các đơn vị dịch vụ về giải pháp công nghệ phối hợp hỗ trợ, cung cấp vì vậy đều có bản quyền. - Tính tự phục vụ Các dịch vụ điện tử chủ yếu là tự phục vụ, cho dù chúng được gửi qua thiết bị. di động, trang web trên máy tính cá nhân hay kiosk. Rowley (2006) định nghĩa tự.
phục vụ là "dịch vụ không có hỗ trợ trực tiếp hoặc tương tác với các đại lý của đại lý". Định nghĩa này được áp dụng cho các dịch vụ bán lẻ của các cửa hàng bán vé thông qua các thiết bị thanh toán, máy bán hàng tự động và các cửa hàng thực phẩm và đồ uống, nơi khách hàng lựa chọn và mang theo thực phẩm của riêng họ. Trong dịch vụ điện tử, khách hàng cần tìm hiểu về các dịch vụ thông qua giao diện trang web hoặc từ các thành viên gia đình và những người bạn có kinh nghiệm hơn. - Không tranh dành: việc tiêu thụ hàng hóa của một cá nhân không làm giảm sự hiện diện hoặc lợi ích của hàng hóa đó đối với người khác.
Đánh giá hàng hóa, dịch vụ và dịch vụ điện tử theo đặc tính Hofacker et al. (2007) phân biệt các đặc tính của hàng hóa, dịch vụ truyền. thống và dịch vụ điện tử như sau: Luan van 11 Bảng 2.1: Hàng hóa được phân loại dựa trên đặc điểm Dựa trên đặc điểm của dịch vụ điện tử thì giữa các dịch vụ truyền thống,. hàng hóa và dịch vụ điện tử được đánh giá thể hiện thể hiện trong bảng sau: .2: Phân biệt hàng hóa dịch vụ dựa trên đặc điểm 2.
Phân loại dịch vụ điện tử Có nhiều ứng dụng khác nhau của dịch vụ điện tử nhau nhưng về cơ bản được. chia làm hai loại là: dịch vụ điện tử phục vụ cho Chính phủ và dịch vụ điện tử dành. cho cá nhân hoặc các tổ chức. Trong đó 11 ứng dụng tiêu biểu thường được sử dụng.
trong dịch vụ điện tử và được trình bày cụ thể trong bảng:. Luan van 12 Bảng 2.3: Phân loại dịch vụ điện tử Luan van 13 Một trong ứng dụng trong dịch vụ điện tử đó là kê khai thuế điện tử sẽ được tác giả trình bày trong luận văn. Dịch vụ điện tử công 2. Chính phủ điện tử Theo Wikipedia chính phủ điện tử (e-Government) được định nghĩa như sau:.
“Chính phủ Điện tử là ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) để các cơ quan của Chính quyền từ trung ương và địa phương đổi mới, làm việc có hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn; cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp và các tổ chức; và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân thực hiện quyền dân chủ và tham gia quản lý Nhà nước. ” - Chức năng của chính phủ điện tử ( CPĐT) i Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng có thể hiểu một cách đơn giản: CPĐT là ứng dụng CNTT và truyền thông cho phép các cơ quan chính phủ đổi mới, làm việc hiệu quả hơn; Cung cấp thông tin và dịch vụ tốt hơn cho công dân, doanh nghiệp và tổ chức; Đồng thời, nó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công dân thực hiện các quyền dân chủ của mình bằng cách tham gia quản lý nhà nước. Nói tóm lại, CPĐT là một chính phủ hiệu lực và hiệu quả hơn, cung cấp các dịch vụ tốt hơn dựa trên việc áp dụng các CNTT và truyền thông. CPĐT với các đặc trưng: Thứ nhất, CPĐT đã đưa chính phủ và người dân đến gần nhau hơn.
Thứ hai, CPĐT chính phủ trở nên minh bạch, chống tham nhũng, quan liêu, cửa quyền. Thứ ba, CPĐT giúp cải cách nền hành chính công. - Mục tiêu của CPĐT Tạo môi trường kinh doanh tốt hơn; Cải thiện phương thức giao dịch và cung ứng dịch vụ công; Luan van 14 Tăng cường sự điều hành chính phủ và sự tham gia của người dân; Nâng cao năng suất và tính hiệu quả của các cơ quan hành chính nhà nước; Hỗ trợ sự thuận tiện cho các cộng đồng vùng sâu vùng xa. - Lợi và hại CPĐT có lợi thế là đáp ứng mọi nhu cầu của công dân bằng cách cải thiện chất lượng hoạt động của chính phủ, từ cấp trung ương đến địa phương, như quản lý nhân sự, quy trình kinh doanh, v.
CPĐT mang đến sự thuận tiện, cung cấp các dịch vụ hiệu quả và kịp thời cho người dân, doanh nghiệp, cơ quan và nhân viên nhà nước. Đối với công dân và doanh nghiệp, CPĐT đơn giản hóa các thủ tục và tăng hiệu quả công việc. Đối với các chính phủ, CPĐT hỗ trợ mối quan hệ giữa các cơ quan chính phủ để đảm bảo việc ra quyết định nhanh chóng và chính xác. Tuy nhiên, tin học hóa hành chính cũng có thể có nhiều nhược điểm.
Bất lợi của chính quyền là cần phải tăng chi phí bảo mật. Các biện pháp bảo vệ dữ liệu để bảo vệ quyền riêng tư và thông tin bí mật (để ngăn chặn các cuộc tấn công, xâm nhập, đánh cắp thông tin bên ngoài hoặc tin tặc) phải được thực hiện, đòi hỏi chi phí bổ sung. Thỉnh thoảng, chính phủ phải có một cơ quan tư nhân độc lập và khách quan trong giám sát, đảm bảo rằng chính phủ không kiểm soát thông tin cá nhân, bảo vệ người dân trước những xâm phạm thông tin bất hợp pháp và cung cấp thông Luan van 15 tin cho người dân. Một nhược điểm khác là hệ thống được sử dụng phải liên tục được cập nhật và cải tiến để thích ứng với tình hình công nghệ mới.
Các hệ thống cũng có thể không tương thích với nhau hoặc hệ điều hành hoặc có thể không hoạt động độc lập (ngoại tuyến) mà không cần liên kết hoặc tin tưởng các thiết bị khác. Việc thu thập và lưu trữ thông tin cá nhân của người dân có thể dẫn đến sự kiểm soát quyền riêng tư và lạm dụng thông tin của họ bởi các cơ quan chính phủ. Ngoài ra thông tin cá nhân có thể được tiết lộ, đánh cắp, phát tán bất hợp pháp hoặc được sử dụng cho mục đích thương mại hoặc không có phương tiện hoặc cơ sở pháp lý để biết (và yêu cầu xóa) thông tin cá nhân nào của mình được lưu trữ và nhằm mục đích theo dõi tính chính xác của thông tin. Mặt khác, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia đòi hỏi sự chung tay của cả hệ.
thống hành chính để đảm bảo tính thống nhất có thể dùng chung. Đây là một quá. trình lâu dài, khó khăn và phức tạp. - Các dạng giao dịch của CPĐT Có bốn dạng giao dịch CPĐT:.
Chính phủ với Công dân (G2C);. Chính phủ với Doanh nghiệp (G2B);. Các cơ quan trong Chính phủ với nhau và giữa hai Chính phủ (G2G). Chính phủ với công chức, viên chức (G2E).
Thuế điện tử Việt Nam 2. Mô hình chung Thuế điện tử là một hệ thống thông tin về thuế cung cấp dịch vụ cho các tổ chức, cá nhân bên ngoài ngành thuế nhằm tạo thuận lợi cho người nộp thuế, giảm thiểu chi phí thực hiện nghĩa vụ thuế, cắt giảm thời gian và thủ tục giấy tờ. Hiện nay, các dịch vụ thuế điện tử bao gồm: cung cấp các thông tin cần thiết về chính sách thuế cho NNT trên các trang thông tin điện tử của ngành như Luật, Nghị định, Thông tư… , đối thoại hỏi đáp trực tiếp, đăng ký kê khai và nộp thuế, hoàn thuế, giải quyết khiếu nại tố cáo của người nộp thuế và cung cấp hóa đơn điện tử,. Quy trình nghiệp vụ thực hiện kê khai thuế qua mạng - Mô hình kê khai thuế cũ: Với mô hình kê khai thuế kiểu cũ người nộp thuế thường phải thực hiện công việc thủ công bằng cách in tờ khai từ máy tính ra giấy rồi sau đó phải trực tiếp đến Cơ quan thuế để nộp trực tiếp.