CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI CÁC SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG. Tổng quan các nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng 1. Nghiên cứu tại Việt Nam Tại Việt Nam trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng và cả trong các lĩnh vực khác. Một số nghiên cứu ngoài lĩnh vực ngân hàng Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Quốc Nghi, Hoàng Thị Hồng Lộc và Lê Thị Diệu Hiền (2011) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ công chứng tại thành phố Cần Thơ.
Nhóm tác giả sử dụng thang điểm Likert và hồi quy Logistic để đánh giá 5 nhân tố: Phương tiện hữu hình, Độ tin cậy, Mức độ đáp ứng; Sự đảm bảo; Sự cảm thông; cỡ mẫu là 189 khách hàng có sử dụng dịch vụ văn phòng công chứng ở Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu cho thấy Sự tin cậy, Mức độ đáp ứng và Phương tiễn hữu hình có tương quan thuận với sự hài lòng của khách hàng, trong đó yếu tố Phương tiện hữu hình là quan trọng nhất. Từ đó bài nghiên cứu đề xuất các văn phòng công chứng tại Cần Thơ nên tập trung nhiều vào 3 yếu tố trên. Trong bài nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách khi đến du lịch tại Bà Rịa – Vũng Tàu của tác giả Thạc sĩ – NCS.
Vũ Văn Nông (2012), tác giả đã sử dụng số liệu thu thập được từ việc khảo sát 295 du khách và dùng thang đo Likert để đánh giá 5 yếu tố: Phong cảnh du lịch, Hạ tầng kỹ thuật, Phương tiện vận chuyển, Hướng dẫn viên du lịch. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách bao gồm: Sự tiện nghi của cơ sở lưu trú, Phương tiện vận chuyển tốt, Thái độ hướng dẫn viên, Ngoại hình của hướng dẫn viên, và Hạ tầng cơ sở phục vụ du lịch. Trong bài nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Thanh Thảo (2012) về các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của sinh viên về các dịch vụ hỗ trợ cho sinh viên, tác giả đã khảo sát 702 sinh viên, năm thứ 2,3,4 của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, và sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá các yếu tố: Tình trạng cơ sở vật chất, Quy trình thực hiện dịch vụ, Đội ngũ nhân viên phòng ban, Đội ngũ giảng viên, cố 4 vấn học tập, Các hoạt động ngoại khóa. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự hài lòng của sinh viên ít phụ thuộc nhất vào yếu tố Quy định, quy trình thực hiện dịch vụ, và phụ thuộc nhiều nhất vào Đội ngũ giảng viên, cố vấn học tập.
Một số nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng Trong bài nghiên cứu của tác giả ThS. Nguyễn Quốc Nghi (2010) về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách hàng đối với ngân hàng thương mại ở thành phố Cần Thơi, tác giả sử dụng thang điểm Likert để đánh giá 5 yếu tố: Phương tiện hữu hình, Độ tin cậy, Mức độ đáp ứng, Sự đảm bảo, Sự cảm thông trên cỡ mẫu 279 khách hàng của hệ thống NHTM Thành phố Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố: Sự tận tình của nhân viên (Sự cảm thông), Thông tin và phí giao dịch hợp lý (Sự tin cậy), Thời gian giao dịch linh hoạt và phương tiện hữu hình hấp dẫn (Sự hữu hình) có tương quan thuận với sự hài lòng của khách hàng, trong đó yếu tố Sự tận tình của nhân viên là quan trọng nhất, yếu tố này tác động mạnh đến sự hài lòng của khách hàng đối với hệ thống NHTM tại Thành phố Cần Thơ. Trong bài nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – chi nhánh Thành Phố Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Thị Ánh Thủy (2008).
Mô hình khảo sát được tác giả xây dựng dựa trên 5 tiêu chí: Thời gian sử dụng dịch vụ, Số lượng dịch vụ khách hàng sử dụng, Số lượng ngân hàng giao dịch, Tiếp tục sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, Mức độ hài lòng của khách hàng khi giao dịch với ngân hàng. Kết quả khảo sát chỉ ra rằng các yếu tố: nơi để xe thuận tiện, mức lãi suất hấp dẫn, sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu của khách hàng ảnh hưởng chính đến sự hài lòng của khách hàng. Ngoài ra khách hàng còn mong muốn ngân hàng thực hiện các giao dịch nhanh chóng, chính xác, thời gian ngồi chờ đến lượt giao dịch ngắn, mạng lưới ngân hàng rộng khắp, hệ thống máy ATM luôn hoạt động tốt. Trong bài nghiên cứu về nhân tố làm nên sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với sản phẩm dịch vụ ngân hàng của ThS.
Đặng Thị Thu Hằng (2013), tác giả đã thực hiện khảo sát trên 300 khách hàng cá nhân sử dụng một hoặc một số dịch vụ do một số NHTM trên địa bàn thành phố Hà Nội cung cấp. Kết quả thu được đối với sản phẩm Thẻ, khách hàng có xu hướng chọn ngân hàng có nhiều cây ATM, những ngân hàng giao dịch thuận lợi, và ngân hàng có uy tín, tin cậy. Đối với sản phẩm tiết kiệm, khách hàng có xu hướng 5 chọn ngân hàng có uy tín, đáng tin cậy, có chi nhánh gần nhà và lãi suất hấp dẫn. Còn đối với sản phẩm tín dụng thì khách hàng chọn các ngân hàng có người quen đang làm ở đó, được giới thiệu bởi người quen có kinh nghiệm hoặc từng vay tại đó, ngân hàng có thủ tục dễ dàng hơn, và ngân hàng có mặt bằng lãi suất thấp hơn.
Nghiên cứu tại nước ngoài Hai tác giả Pratap Chandra Mandal và Sujoy Bhattacharya (2013) nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng đối với các ngân hàng bán lẻ tại Ấn Độ, bằng phương pháp phỏng vấn sâu và tập trung vào các nhóm đối tượng sử dụng dịch vụ ngân hàng bán lẻ của Ấn Độ, kết quả nghiên cứu được phân tích định lượng dựa trên thuyết Ground. Kết quả nghiên cứu chia các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng thành các nhóm: Sản phẩm dịch vụ chính (thẻ tín dụng, tín dụng, tiết kiệm), Cung cấp dịch vụ (Quá trình cung cấp dịch vụ, dịch vụ khách hàng, dịch vụ ngân hàng trực tuyến, dịch vụ ATM) , Nhân viên, Không khí trong các cơ sở ngân hàng. Trong đó nhóm nhân tố Cung cấp dịch vụ ảnh hưởng nhiều nhất đến sự hài lòng của khách hàng. Bài nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng bán lẻ của hai tác giả Jayshree Chavan và Faizan Admad (2013) dựa trên cỡ mẫu 600 khách hàng của các ngân hàng khác nhau.
Hai tác giả đã sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá các nhân tố theo mô hình SERVQUAL truyền thống, bao gồm: Sự hữu hình, Sự tin cậy, Sự thuận tiện, Độ chính xác, Khả năng đáp ứng, Sự cảm thông, Sự nhanh chóng và Hỗ trợ cá nhân. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Sự hữu hình ảnh hưởng nhiều nhất đến mức độ hài lòng của khách hàng, trong khi Hỗ trợ cá nhân ảnh hưởng ít nhất. Tác giả Ankit Shah (2012) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng của ngân hàng bán lẻ ở miền tây Ấn Độ, tác giả sử dụng thang điểm Likert 5 mức độ để đánh giá các yếu tố: Dịch vụ ngân hàng truyền thống, Dịch vụ ngân hàng trực tuyến, Định vị hình ảnh của ngân hàng, Sự thuận tiện, Sự rủi ro của ngân hàng trực tuyến, Phí dịch vụ, Lãi suất, Mức độ chăm sóc khách hàng và Không gian đỗ xe. Kết quả nghiên cứu cho thấy Không gian đỗ xe ảnh hưởng nhiều nhất đến sự hài lòng của khách hàng, Phí dịch vụ ảnh hưởng ít nhất.
Cơ sở lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng đối với các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng 1. Ngân hàng thương mại và dịch vụ ngân hàng 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện các chức năng trung gian giữa hai hay nhiều bên trong một hoạt động tài chính nhất định. Như là trung gian giữa người thừa vốn và người thiếu vốn, trung gian thanh toán, …Ngoài ra ngân hàng còn cung cấp các sản phẩm tài chính để kiếm lời.
Ngân hàng thương mại đã có lịch sử phát triền hàng trăm năm và trải qua nhiều hình thái, theo xu thế ngày càng mở rộng. Sự mở rộng thể hiện ở lượng dịch vụ, quy mô dịch vụ và ở sự lan rộng vượt ra ngoài mọi biên giới địa lý. Này nay, căn cứ vào quy mô mỗi giao dịch và số lượng các giao dịch mà các khách hàng thực hiện, người ta chia các khách hàng của NHTM thành 2 nhóm cơ bản gồm khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân. - Khách hàng doanh nghiệp: Là các doanh nghiệp sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cung cấp như thanh toán, bảo lãnh, vay vốn ngắn hạn dài hạn.
nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. - Khách hàng cá nhân: Là khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình, sử dụng các dịch vụ tiết kiệm, thanh toán, tín dụng. của ngân hàng nhằm mục đích sinh lời, tiêu dùng, đầu tư, hay phát triển sản suất kinh doanh. Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cho khách hàng cá nhân.
Ngày nay, các ngân hàng đang dần chuyển hướng từ phục vụ các doanh nghiệp sang phục vụ các khách hàng cá nhân. Các sản phẩm cung cấp cho khách hàng cá nhân đã ngày càng đa dạng hơn: Sản phẩm tiết kiệm Sản phẩm tiết kiệm là sản phẩm thu hút khách hàng gửi tiền nhằm mục đích an toàn và sinh lời, từ đó ngân hàng có vốn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Các sản phẩm tiết kiệm được thiết kế đa dạng và phong phú, hướng tới các đối tượng khách hàng khác nhau. Cho vay tiêu dùng: 7 Sản phẩm cho vay tiêu dùng được thiết kế nhằm phục vụ các khách hàng có nhu cầu mua sắm tuy nhiên chưa có đủ tiền vào thời điểm đó.
Khách hàng có thể đến ngân hàng để vay vốn hoặc có thể sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng để tiêu dùng trước, sau đó trả tiền cho ngân hàng sau. Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, tín dụng tiêu dùng là một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất.