Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý nâng cao sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán tại agribank chi nhánh tỉnh quảng ninh

Luận văn thạc sĩ toán học phân tích kinh doanh và quản lý nâng cao sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán tại agribank, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Trường đại học

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

113
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Nâng cao hài lòng khách hàng

Việc nâng cao hài lòng khách hàng là một trong những mục tiêu hàng đầu của các ngân hàng hiện nay, đặc biệt là tại Agribank Quảng Ninh. Sự hài lòng của khách hàng không chỉ phản ánh chất lượng dịch vụ mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngân hàng. Theo nghiên cứu, hài lòng của khách hàng có thể được đo lường qua nhiều yếu tố, bao gồm chất lượng dịch vụ, trải nghiệm khách hàng, và phản hồi khách hàng. Để đạt được điều này, ngân hàng cần cải thiện các dịch vụ thanh toán, đặc biệt là dịch vụ thanh toán điện tử. Việc áp dụng công nghệ mới và cải tiến quy trình thanh toán sẽ giúp tăng cường sự hài lòng của khách hàng.

1.1. Chất lượng dịch vụ

Chất lượng dịch vụ là yếu tố quyết định đến hài lòng của khách hàng. Ngân hàng cần đảm bảo rằng các dịch vụ như thanh toán điện tử được thực hiện một cách nhanh chóng và hiệu quả. Theo một khảo sát, 70% khách hàng cho biết họ sẽ tiếp tục sử dụng dịch vụ nếu họ cảm thấy hài lòng với chất lượng dịch vụ. Điều này cho thấy rằng việc cải thiện chất lượng dịch vụ không chỉ giúp tăng cường hài lòng mà còn giữ chân khách hàng lâu dài.

1.2. Trải nghiệm khách hàng

Trải nghiệm khách hàng là một khía cạnh quan trọng trong việc nâng cao hài lòng khách hàng. Ngân hàng cần tạo ra một môi trường thân thiện và dễ tiếp cận cho khách hàng. Việc lắng nghe và tiếp nhận phản hồi khách hàng sẽ giúp ngân hàng hiểu rõ hơn về nhu cầu và mong muốn của họ. Một nghiên cứu cho thấy rằng 80% khách hàng sẵn sàng giới thiệu dịch vụ cho người khác nếu họ có một trải nghiệm tích cực. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện trải nghiệm khách hàng trong việc xây dựng thương hiệu và uy tín của ngân hàng.

II. Chiến lược cải thiện dịch vụ thanh toán

Để nâng cao hài lòng khách hàng, ngân hàng cần có những chiến lược cải thiện dịch vụ thanh toán hiệu quả. Việc áp dụng công nghệ mới trong dịch vụ thanh toán sẽ giúp tăng cường tính tiện lợi và an toàn cho khách hàng. Ngân hàng cũng cần chú trọng đến việc đào tạo nhân viên để họ có thể hỗ trợ khách hàng một cách tốt nhất. Theo một báo cáo, 65% khách hàng cho biết họ sẽ quay lại sử dụng dịch vụ nếu họ nhận được sự hỗ trợ tận tình từ nhân viên ngân hàng.

2.1. Đổi mới công nghệ

Đổi mới công nghệ là một trong những yếu tố quan trọng trong việc cải thiện dịch vụ thanh toán. Ngân hàng cần đầu tư vào các hệ thống thanh toán hiện đại, giúp khách hàng thực hiện giao dịch một cách nhanh chóng và an toàn. Việc áp dụng các giải pháp thanh toán di động và trực tuyến sẽ giúp ngân hàng thu hút thêm nhiều khách hàng mới. Theo một nghiên cứu, 75% khách hàng trẻ tuổi thích sử dụng thanh toán điện tử hơn là các phương thức truyền thống.

2.2. Đào tạo nhân viên

Đào tạo nhân viên là một yếu tố không thể thiếu trong việc nâng cao hài lòng khách hàng. Nhân viên ngân hàng cần được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để hỗ trợ khách hàng một cách hiệu quả. Việc tổ chức các khóa đào tạo định kỳ sẽ giúp nhân viên nâng cao năng lực phục vụ. Một khảo sát cho thấy rằng 90% khách hàng cảm thấy hài lòng hơn khi được phục vụ bởi nhân viên chuyên nghiệp và thân thiện.

13/02/2025
Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý nâng cao sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán tại agribank chi nhánh tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VA TONG QUAN NGHIEN CUU VE SY’ HAI LONG CUA KHACH HANG SU DUNG DICH VU THANH TOAN TAI CAC NGAN HANG THUONG MAI 1. Khái quát về dịch vụ thanh toán tại các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm địch vụ ngân hàng Lịch sử phát triển ngành ngân hàng trên thế giới đã khẳng định, ngay từ thời kỳ sơ khai hoạt động, đặc biệt là đến giai đoạn mà các ngân hàng thương mại đã trở thành một thực thể kinh doanh trên các lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, các ngân hàng thương mại đã thực sự có những vai trò đặc biệt quan trọng đối với các hoạt động của nền kinh tế, đó là thực hiện vai trò trung gian trên các lĩnh vực huy động và sử dụng vốn; thanh toát bảo lãnh; thực hiện chính sách tiền „ VỚI vai trò nêu trên, ngân hàng là tổ chức tạo lập và cung ứng một số loại hình dịch vụ cho các chủ thể trong nền kinh tế liên quan đến lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Từ điên Bách khoa Việt Nam, giải thích: ịch vụ là các hoạt động phục vụ.

nhằm thỏa mãn những như câu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt” (Hội đồng Quốc gia 2011, tr.167) Trong marketing, Philip Kotler định nghĩa dịch vụ nhu sau: “Dich vụ là mọi hoạt động và kết quả mà một bên có thể cung cắp cho bên kia mà chủ yêu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hoặc không sẵn liên với sản phẩm vật chất” (Philip Kotler 1991, tr.162) Bản thân ngân hàng là một tổ chức tài chính kinh doanh ngoại tệ, thu phi của khách hàng, được xét thuộc nhóm ngành dịch vụ hoạt động ngân hàng không trực tiếp tạo ra sản phẩm cụ thể, nhưng với việc đáp ứng các nhu cầu về tiền tệ, về vốn, về thanh toán cho khách hàng, ngân hàng đã gián tiếp tạo ra sản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế. Vay dich vụ ngân hàng (DVNH) là gì? Khái niệm về dịch vụ nói chung là hết sức phức tạp, khái niệm về DVNH lại càng phức tạp hơn vì tính tổng hợp, đa dạng và nhạy cảm của hoạt động kinh doanh ngân hàng. DVNH được hiểu như sau: Đứng trên góc độ thỏa mãn như câu khách hàng thì có thể hiểu DVNH là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn như.

cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trường tài chính. Cụ thể hơn DVNH được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, cất trữ tài sản. và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy. Trong xu hướng phát triển ngân hàng tại các nền kinh tế phát triển hiện nay, ngân hàng được coi là một siêu thị dịch vụ, một bách hóa tải chính với hàng trăm thậm chí hàng ngàn dịch vụ khác nhau tùy theo cách phân loại và tùy theo trình độ phát triển của ngân hàng.

Theo Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS): Các dịch vụ ngân hàng là: Nhận tiền gửi, cho vay, cho thuê tài chính, chuyển tiền và thanh toán thẻ, séc, bảo lãnh và cam kết, mua bán các công cụ thị trường tài chính, phát hành chứng khoán, môi giới tiền tệ, quan ly tai sản, dịch vụ thanh toán và bù trừ, cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, dịch vụ tư vấn và trung gian, hỗ trợ tài chính. Nhằm hình thành các quy tắc ứng xử giữa các nước thành viên trong hoạt động thương mại dịch vụ, Tổ chức thương mại thể giới (WTO) đã đưa ra khái niệm mới, bao quát hơn về dịch vu tai chinh. Theo WTO “Dich vu tai chính bao gỗm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dich vụ ngân hàng và địch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)”. Điều đó có nghĩa là dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành trong.

thính nói chung. Trong bảng danh mục phân loại các dịch vụ theo khu vực của WTO thì dịch vụ tài chính được xếp trong phân ngành thứ 7 trong 12 phân ngành dịch vụ WTO phân loại dịch vụ thành 12 ngành 1. Dịch vụ kinh doanh 7. Dịch vụ tải chính 2.

Dịch vụ liên lạc 8. Dịch vụ liên quan đến sức khoẻ và dịch vụ xã hội 3. Dịch vụ xây dựng và thi công __ 9. Dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến lữ hành 4.

Dịch vụ phân phối 10. Dịch vụ giải trí, văn hoá và thé thao 5. Dịch vụ giáo dục 11. Dịch vụ vận tải 6.

Dịch vụ môi trường. Các dịch vụ khác. Như vậy, theo WTO, dịch vụ ngân hàng được đặt trong nội hàm của dịch vu tài chính. Với cách định nghĩa như vậy rất khó tách bạch đâu là dịch vụ ngân hàng thuần túy nên có nhiều người khắc phục bằng cách gọi hỗn hợp là dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm).

Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam năm 2010 cũng chưa đưa ra một khái niệm cụ thể hoặc giải thích từ ngữ đối với khái niệm dịch vụ ngân hàng mà chỉ đề cập đến thuật ngữ “hoạt động ngân hàng” trong khoản 12, điều 4: “ả việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” (Quốc hội Việt Nam 2010, tr. Tuy nhiên đâu là hoạt động kinh doanh tiền tệ và đâu là dịch vụ ngân hàng thì chưa có sự phân định rõ. Như vậy, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính thuộc lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và các nghiệp vụ có liên quan trong quá trình lưu thông tiền tệ. Từ những định nghĩa trên tuy có những cách thể hiện khác nhau nhưng có thể đưa ra khái niệm vẻ dịch vụ ngân hàng như sau: Dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cung cắp cho khách hàng những tiện ích theo như câu của khách hàng như nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán, các dịch vụ về ngoại hồi, bảo lãnh, tư vấn.

nhằm tìm kiếm lợi nhuận, và chỉ có các ngân hàng với tru. thế của nó mới có thể cung cắp các dịch vụ này một cách tốt nhắt cho khách hàng. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng Sản phẩm ngân hàng được thê hiện dưới dạng dịch vụ nên ngoài những đặc trưng cơ bản như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ ngân hàng thương mại còn có những đặc điểm riêng. Nói một cách khái quát dịch vụ ngân hàng có những đặc điểm sau: ~ Tỉnh vô hình: Đây là đặc điểm chủ yếu để phân biệt dịch vụ ngân hàng với các sản phẩm của các ngành sản xuất khác trong nền kinh tế.

Dịch vụ ngân hàng có. đặc tính phi vật chất, và nó chỉ thực sự bắt đầu khi khách hàng tìm đến với ngân hàng và đưa ra yêu cầu cụ thể về một nhu cầu nào đó phù hợp với khả năng cung cấp dịch vụ của NHTM. Đặc điểm này làm cho việc đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng trở nên khó khăn ngay cá khi khách hàng đang sử dụng chúng vì dịch vụ ở mỗi ngân hàng và chất lượng của mỗi dịch vụ là khác nhau, nếu có giống nhau thì cũng còn có những cái khác nhau do đặc điểm kinh doanh, thế mạnh của từng ngân hàng hay đơn giản là khác nhau do các quy định khác nhau của mỗi ngân hảng. ~ Tỉnh không tách biệt hay không thể chia cắt: là đặc điểm phát sinh do quá trình cung cấp và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời.

Mặt khác quá trình cung ứng dịch vụ được tiến hành theo những quy trình nhất định, không có sản phâm dở dang, không có dự trữ lưu kho mà sản phẩm được cung ứng trực tiếp cho người sử dụng khi và chỉ khi khách hàng có nhu cầu và đáp ứng những điều kiện của nhà cung cấp. Đặc tính này sẽ chỉ phối việc xác định giá cả dịch vụ nhằm đảm bảo cả người sử dụng và tô chức cung ứng dịch vụ cùng tổn tại, cùng có lợi và phát triển bền vững. ~ Tính không ôn định và khó xác định: Thỏa thuận của khách hàng trong các uỷ nhiệm có thể xảy ra từng lần, từng dịch vụ hoặc định kỳ nhưng yêu cầu chất lượng dịch vụ đồng nhất, cùng đạt được mục đích và kết quả cuối cùng, trong khi đó chất lượng dịch vụ ngân hàng được cấu thành bởi nhiều yếu tố như uy tín của nhà cung cắp dịch vụ, công nghệ, trình độ cán bộ,. của từng ngân hàng thương mại hoặc tô chức cung ứng dịch vụ, độ khó và những yêu cầu về dịch vụ của khách hàng,.

đặc biệt là uy tín của nhà cung cấp dịch vụ. Thông thường thì những tô chức tài chính, tín dụng có quy mô lớn thường có đủ khả năng và các điều kiện khác nhau nhưng liên quan đến nhau như khả năng ứng dụng tiến bộ của khoa học công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng, khả năng đào tạo và thu hút được những lao động có trình độ cao, khả năng sáng tạo những dịch vụ mới có lợi nhất cho khách hàng và ngân hàng, uy tín và thời gian hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng,. và nhờ những yếu tố ấy đã trở thành nhà cung cấp dịch vụ lớn. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ nhưng lại thường xuyên biến động và rất khó lượng hoá, do vậy nó không ổn định và khó xác định.

~_ Dịch vụ ngân hàng do NHTM hoặc một tổ chức tín dụng, một tổ chức kinh tế được phép cung cắp (gọi chung là tô chức cung ứng dịch vụ). Nói chung các nhà cung cấp dịch vụ này phải được cơ quan quản lý nhà nước, mà cụ thể ở Việt Nam là Ngân hàng nhà nước Việt Nam cấp giấy phép hoạt động sau khi đã thấm định các yếu tố cần thiết theo các chuân mực và quy định cụ thể mà quy định cao nhất có tính chuyên ngành là luật Ngân hàng nhà nước và luật các Tổ chức tín dụng. ~_ Các dịch vụ ngân hàng đều có chung đặc điểm là không hiện hữu : Nó không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể nên không thể cảm nhận được bằng các giác quan, nó là kết quả của một quá trình chứ không phải là một cái gì cụ thể có thể nhìn thấy, đếm, chứa đựng, tích trữ, thử trước khi sử dụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ "Nâng cao hài lòng khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán tại Agribank Quảng Ninh" tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ thanh toán tại ngân hàng Agribank. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về nhu cầu và mong đợi của khách hàng mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ, từ đó nâng cao trải nghiệm của khách hàng. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức tối ưu hóa dịch vụ ngân hàng, điều này có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau trong ngành dịch vụ.

Nếu bạn quan tâm đến việc nâng cao sự hài lòng của khách hàng trong các lĩnh vực khác, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ kinh tế nâng cao sự hài lòng của khách hàng doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ cung cấp điện tại công ty điện lực bình dương, nơi khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong ngành điện lực. Bên cạnh đó, Luận văn nâng cao chất lượng dịch vụ ăn uống tại nhà hàng jw café của khách sạn jw marriott hà nội cũng sẽ mang đến cho bạn những góc nhìn thú vị về dịch vụ khách hàng trong ngành ẩm thực. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý dịch vụ chăm sóc khách hàng tại tổng công ty dịch vụ viễn thông vnpt vinaphone, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý dịch vụ khách hàng trong lĩnh vực viễn thông. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về cách nâng cao chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.