Chương 1. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển khu kinh tế cửa khẩu Chương 2. Thực trạng phát triển khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam thời gian qua Chương 3. Quan điểm và giải pháp đẩy mạnh phát triển khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam trong thời gian tới Sau đây là nội dung nghiên cứu chi tiết của Luận văn.
10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ CỬA KHẨU 1.1 Vị trí của khu kinh tế cửa khẩu đối với quốc gia 1.1 Giao lưu kinh tế qua biên giới Từ trước đến nay, "giao lưu kinh tế qua biên giới" thường được hiểu theo nghĩa hẹp là các hoạt động trao đổi thương mại qua biên giới giữa hai nước, chủ yếu là những trao đổi về hàng hóa tiêu dùng của cư dân hai biên giới hoặc giữa các xí nghiệp nhỏ đóng tại các địa bàn biên giới, thuộc tỉnh có cửa khẩu biên giới. Tuy nhiên, cùng với sự tăng cường xu hướng mở cửa và hợp tác kinh tế ở nhiều nước, khái niệm này đã ngày càng được mở rộng, bao trùm lên nhiều dạng hoạt động mới, trước kia chưa từng được thực hiện ở khu vực biên giới. Vì vậy, theo nghĩa rộng, "giao lưu kinh tế qua biên giới" là các hoạt động trao đổi kinh tế, kỹ thuật qua các cửa khẩu biên giới, trong đó các hoạt động trao đổi thương mại có vai trò chủ yếu. Hoạt động giao lưu kinh tế không chỉ đơn thuần là việc buôn bán, trao đổi hàng hóa thông thường mà còn bao gồm cả hoạt động hợp tác kỹ thuật, xuất nhập khẩu dịch vụ, thực hiện các liên doanh, buôn bán trang thiết bị kỹ thuật, phát triển cơ sở hạ tầng, du lịch.
Có thể nói rằng giao lưu kinh tế qua biên giới đã phát triển từ hình thức trao đổi hàng hóa đơn giản thành các hoạt động hợp tác sản xuất kinh doanh. Trong nội dung của Luận văn được trình bày ở các phần tiếp theo dưới đây, giao lưu kinh tế qua cửa khẩu biên giới được sử dụng theo nghĩa rộng của khái niệm này.2 Cửa khẩu Cửa khẩu là nơi người, phương tiện giao thông vận tải, hàng hóa ra - vào qua biên giới đất liền. Cửa khẩu biên giới đất liền (cửa khẩu biên giới) bao gồm: cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính (còn gọi là cửa khẩu quốc gia) và cửa khẩu phụ, được mở trên các tuyến đường bộ, đường sắt trong khu vực biên giới theo Hiệp định về Quy chế biên giới đã được ký kết giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với 11 Chính phủ nước láng giềng để thực hiện việc xuất, nhập và qua lại biên giới quốc gia [10]. Cửa khẩu quốc tế được mở cho người, phương tiện, hàng hóa của Việt Nam, nước láng giềng và nước thứ ba xuất, nhập qua biên giới quốc gia.
Cửa khẩu chính (cửa khẩu quốc gia) được mở cho người, phương tiện, hàng hóa của Việt Nam, nước láng giềng xuất, nhập qua biên giới quốc gia. Cửa khẩu phụ được mở cho người, phương tiện, hàng hóa của Việt Nam và nước láng giềng ở khu vực biên giới, vùng biên giới qua lại biên giới quốc gia.3 Khu kinh tế cửa khẩu Khu kinh tế cửa khẩu (sau đây viết tắt là khu KTCK) được hiểu là một địa bàn bao gồm một cửa khẩu biên giới (cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính) và một khu vực quan hệ mật thiết đối với toàn bộ hoạt động giao lưu kinh tế biên giới qua cửa khẩu này. Địa bàn này có thể là một xã hoặc một số xã của một huyện, có thể là một số xã liền kề của hai huyện. Trên địa bàn đó được áp dụng một số chính sách ưu đãi về xây dựng cơ sở hạ tầng, về đầu tư sản xuất, thương mại, thuế, đất đai, xuất nhập cảnh và du lịch.
Thông qua các khu KTCK đó, các hoạt động giao lưu kinh tế qua biên giới được khuyến khích phát triển, nhằm góp phần vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của các địa phương vùng biên giới theo hướng hướng về xuất khẩu, nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào các dân tộc vùng có cửa khẩu. Tóm lại, khu KTCK là một địa bàn lấy cửa khẩu làm hạt nhân, trên đó áp dụng một số chính sách ưu đãi nhằm tăng cường giao lưu kinh tế biên giới qua cửa khẩu đó.2 Lợi ích của việc phát triển khu kinh tế cửa khẩu Việc phát triển khu KTCK có ý nghĩa gì và đem lại những lợi ích như thế nào. Sau đây là những lợi ích chính: (1) Việc phát triển các khu KTCK sẽ thúc đẩy giao thương qua cửa khẩu, trên cơ sở đó tạo tiền đề cho kinh tế của một vùng lớn cũng như kinh tế của cả quốc gia phát triển. Hình thành và phát triển khu KTCK sẽ tạo ra một địa bàn để tăng cường giao thương giữa hai nước, khai thác tiềm năng du lịch, công nghiệp để phát triển du lịch 12 và công nghiệp, tận dụng được các lợi thế tiềm năng của từng địa phương ở cả hai bên đường biên, huy động sự tham gia của nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội như ngoại giao, sản xuất hàng xuất khẩu, nghiên cứu khoa học công nghệ, tài chính,.của các tỉnh, các vùng có biên giới với các nước láng giềng vào họat động kinh tế đối ngoại ở khu vực biên giới.
Cùng với việc hình thành khu KTCK sẽ hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng tổng hợp với mạng lưới giao thông nối liền giữa khu KTCK với nước bạn và nội địa của nước ta, tạo điều kiện lôi kéo và thúc đẩy hợp tác liên vùng về kinh tế - xã hội giữa các vùng của đất nước. Hình thành và phát triển các khu KTCK cũng chính là hình thành các đầu mối quan hệ liên vùng của hợp tác liên vùng hai Hành lang, một vành đai kinh tế ở khu vực phía Bắc; hợp tác phát triển Hành lang kinh tế Đông - Tây ở miền Trung và Hành lang kinh tế đường xuyên Á ở phía Nam. (2) Việc phát triển các khu KTCK sẽ tạo lập quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước láng giềng và vươn tới các nước khác. Thông qua việc hình thành và phát triển các khu KTCK sẽ góp phần tăng cường, mở rộng và nâng cao hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại giữa nước ta với Trung Quốc, Lào, Campuchia và qua các nước đó tới các nước khác, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương hai bên biên giới và cùng nhau khai thác các tiềm năng và lợi thế của khu KTCK ở mỗi bên.
Việc phát triển các khu KTCK ở mỗi khu vực biên giới sẽ tạo lập quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các nước mà nước ta có chung đường biên giới; góp phần tăng cường hơn tình hữu nghị thân thiện, hiểu biết lẫn nhau giữa 2 nước Việt Nam và Trung Quốc theo phương châm 16 chữ vàng “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”; tạo điều kiện cho Việt Nam, Lào và Campuchia cùng hợp tác phát triển và gìn giữ biên giới hữu nghị, hợp tác và phát triển kinh tế vùng biên trong quy hoạch hợp tác phát triển 3 nước Việt Nam - Lào và Campuchia và phát triển hợp tác theo Hành lang kinh tế Đông - Tây, tạo điều kiện cho Việt Nam, Lào và Campuchia hợp tác với nhau khai thác kinh tế vùng biên giới, xây dựng vùng biên giới hữu nghị và cùng hợp tác phát triển theo Hành lang kinh tế đường xuyên Á. 13 Đây cũng là cách giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các tỉnh có khu KTCK; gia tăng buôn bán và du lịch biên giới sẽ thúc đẩy quá trình đô thị hóa, cải thiện cơ sở hạ tầng khu vực. Cùng với phát triển du lịch, thương mại cửa khẩu sôi động sẽ là quá trình đô thị hóa để thu hút du khách, thương nhân,. trong vùng, khắp mọi miền đất nước, từ các nước láng giềng tham gia đi lại, vận chuyển hàng hóa, tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp cho dân cư các nơi có khu KTCK.
Gắn liền với đó sẽ là các dự án hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước láng giềng, qua đó với nhiều nước khác. Thực tế trong những năm qua, hoạt động buôn bán trao đổi hàng hoá qua biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào và Campuchia đã góp phần đẩy mạnh sản xuất trong nước phát triển, đồng thời tạo điều kiện mở rộng hợp tác kinh tế, phát huy các tiềm năng lợi thế của vùng giáp biên. Giao lưu kinh tế qua cửa khẩu là nhân tố quan trọng trong việc nâng cao đời sống cho dân cư vùng biên giới Việt Nam giáp Trung Quốc - Lào - Campuchia, góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo nền móng cho việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật tới vùng biên giới xa xôi hẻo lánh. Góp phần củng cố tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước láng giềng.
(3) Góp phần củng cố hoà bình và an ninh trong khu vực, gìn giữ an ninh, ổn định xã hội ở vùng biên giới hai nước. Hoạt động giao lưu kinh tế tại khu vực các cửa khẩu biên giới không chỉ những làm tăng tiềm lực kinh tế cho khu vực biên giới mà còn làm cho người dân vùng biên nhận thức được sự cần thiết phải giữ gìn môi trường hoà bình, hợp tác để làm ăn lâu dài. Điều đó càng khuyến khích người dân gắn bó máu thịt với vùng biên, sẵn sàng bảo vệ biên giới khi cần thiết. Bên cạnh đó, giao lưu kinh tế qua các cửa khẩu còn đòi hỏi phân bố lại dân cư và lao động trong vùng, tạo nên sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng với nhân dân trên địa bàn.
Đây là yếu tố quan trọng và có ý nghĩa to lớn của giao lưu kinh tế cửa khẩu biên giới đối với nhiệm vụ giữ vững an ninh - quốc phòng và bảo vệ biên cương của Tổ quốc. Phát triển giao lưu kinh tế nhờ các hoạt động thương mại qua biên giới sẽ làm tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau về văn hoá, từ đó cải thiện an ninh biên giới. 14 Trên cơ sở mở rộng hoạt động kinh tế, phát huy sức mạnh tổng hợp nhằm tạo ra thế vững mạnh về quốc phòng an ninh. Thực hiện phát triển kinh tế tại các khu vực cửa khẩu chính là tạo nền tảng cơ sở vật chất, thu hút nhân tài, vật lực từ trong nhân dân, góp phần giữ vững chủ quyền biên giới.