Chương 1. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài Luận án Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển khu KTCK hướng tới hình thành khu hợp tác kinh tế biên giới Chương 3. Thực trạng phát triển một số khu KTCK của Việt Nam Chương 4.
Điều kiện, mô hình và giải pháp phát triển các khu KTCK cua Việt Nam hướng tới hình thành khu hợp tác kinh tế qua biên giới. TONG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIEN QUAN DEN DE TÀI LUẬN ÁN 1. Nội dung tông quan 1. Các công trình nghiên cứu trên góc độ lý luận về phát triển các khu KTCK và khu HTKT qua biên giới Trên góc độ lý luận, van dé phát triển các khu kinh tế cửa khẩu (KTCK) biên giới và khu hợp tác kinh tế (HTKT) biên giới đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu.
Cụ thể: Về khái niệm khu kinh tế biên giới: Theo Montague Lord and Pawat Tangtrongita (2014), Nghiên cứu phạm vi cho Khu kinh tế biên giới đặc biệt (SBEZ) trong Tam giác tăng trưởng Indonesia-Malaysia- Thái Lan (IMT-GT): Đặc khu kinh tế biên giới là một khu kinh tế dựa trên nền tảng khu kinh tế đặc biệt nhưng rộng hơn về phạm vi và nội dung hoạt động. SBEZ được biết đến như một khu vực địa lý được phân định ở biên giới giữa các nước láng giềng hoặc nằm ở cả hai bên, được đảm bảo về mặt vật lý (có rào chắn) với cơ chế và chính sách riêng. Những ưu đãi đặc biệt dành cho các doanh nghiệp thuộc SBEZ cùng với một khu vực hải quan riêng biệt cùng với quy trình thủ tục gọn nhẹ. SBEZ sẽ hướng tới một số các hoạt động như phát triển cơ sở hạ tang, xây dựng các trung tâm vận tải và hậu cần, và tạo thuận lợi chung cho việc giao thương và đầu tư xuyên biên giới, góp phần thúc đây sự phát triển kinh tế, xã hội của khu vực biên giới.
Trong một vài trường hợp, SBEZ còn có thé bao gồm một CBEZ. SBEZ được vận hành theo những nguyên tắc giống như SEZ: (¡) các nhà đầu tư được phép xuất nhập khâu hàng hóa miễn thuế và không bị kiểm soát hồi đoái; (ii) thủ tục giấy phép và những quy trình theo luật định khác được tạo điều kiện thuận lợi; và (iii) các doanh nghiệp được miễn giảm nghĩa vụ thuế GTGT, thuế doanh nghiệp và các loại phí địa Phương. Tuy nhiên, SBEZ còn có thé gồm một số thành phan hỗ trợ như thông tin, năng lượng, và các cơ sở hạ tầng mềm liên quan đến (a) quản trị (luật kinh doanh và những quy định ảnh hưởng tới thuận lợi thương mại, đầu tư và tài chính); (b) cơ sở hạ tầng kinh tế (các tiện ích tiện và hệ thống hậu cần, tài chính, các phương tiện sản xuất, lưu trữ); và (c) hạ tang xã hội (thành phố biên giới, hệ thống giáo dục, dao tạo và nghiên cứu, hệ thống phúc lợi xã hội và chăm sóc sức khỏe). Theo Lee và Wilson, 2015 và Wilson, 2011, khu hợp tác kinh tế qua biên giới chủ yếu được hình 11 thành bởi các yếu tô sau đây: (¡) quá trình hội nhập khu vực và các hiệp định song phương làm giảm các rao cản và gia tăng nhu cầu hợp tác kinh tế biên giới; (ii) nguy cơ khủng bố làm gia tăng nhu cầu đảm bảo an ninh ở khu vực biên giới; (iii) các nỗ lực cải cách kinh tế của hai nước, và (iv) sự chênh lệch về trình độ phát triển, gần gũi về địa lý và tương đồng về văn hóa.
Khu kinh tế biên giới là khu vực địa lý nằm dọc theo một biên giới quốc tế của một nước, hướng tới một số các hoạt động như phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các trung tâm vận tải và hậu cần, và tạo thuận lợi chung cho việc giao thương và đầu tư xuyên biên giới, khuyến khích sự phát triển kinh tế, xã hội của một khu vực đọc biên giới giữa các quốc gia (Nguyễn Tiến Minh, Hà Văn Hội (2019): Kinh nghiệm phát triển đặc khu kinh tế biên giới của Thái Lan và một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam trong phát triển khu kinh tế cửa khẩu, Chuyên san Kinh tế & Kinh doanh - Tạp chí KH DHOGHN 4.2019) SBEZ là một khu vực địa lý nằm đọc biên giới, có ranh giới nhất định, với chính sách quản lý duy nhất, có các ưu đãi đặc biệt và các lợi ích khác đối với các công ty nằm trong Khu, đồng thời có khu vực thuế quan riêng biệt với lợi ích ưu đãi thuế và thủ tục nhanh chóng (Nguyễn Anh Thu, 2019: Đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KX.09/16-20 với chủ đề: “Luận cứ khoa học cho sự hình thành và phát triển các khu kinh tế xuyên biên giới ở Việt Nam’’). Vé các nhân to thúc day hợp tác kinh tế biên giới, trong nghiên cứu của Henk Van Houtum (1998), trong The Development of Cross-Border Economic Relations, đã trình bay những lý luận chung về sự ảnh hưởng của các thành phố biên giới đối với sự phát triển của khu vực hợp tác kinh tế xuyên biên giới nói chung và một số công ty ở biên giới Hà Lan và Bi nói riêng. Về phương diện lý thuyết, bài viết đã trình bày sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế xuyên biên gới dựa vào cách tiếp cận về chi phi giao dịch, cách tiếp cận về mạng lưới quốc tế và quốc tế hóa và cách tiếp cận “khoảng cách tâm linh - psychic distance”. Bài nghiên cứu đã sử dụng mô hình INTERFACE để phân tích đánh giá các mối quan hệ kinh tế xuyên biên giới giữa hai doanh nghiệp.
Theo đó, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển quan hệ hợp tác xuyên biên giới giữa các doanh nghiệp. Lee và Wilson, 2015, như đã dẫn ở trên cũng cho rằng; hợp tác kinh tế xuyên biên giới chủ yếu được thúc đây bởi các yếu tổ sau đây: (i) quá trình hội nhập khu vực và các hiệp định song phương làm giảm các rào cản và gia tăng nhu câu hợp tác 12 kinh tế biên giới; (ii) nguy cơ khủng bố làm gia tăng nhu cầu dam bảo an ninh ở khu vực biên giới; (iii) các nỗ lực cải cách kinh tế; (iv) sự chênh lệch về trình độ phát triển, gần gũi về địa lý và tương đồng về văn hóa (Wilson, 2011). Các tác giả cũng khang định việc phát triển cơ sở hạ tầng là yếu tố quan trọng trong việc thúc đây hop tác kinh tế biên giới, việc áp dụng khá phổ biến hình thức đối tác công tư (PPP), một phần nhờ vào việc thay đổi quy định và luật đối với Hải quan. Về phát triển nguồn nhân lực, các nha sản xuất và cung ứng dịch vụ đưa ra quyết định ngày càng dựa vào tính sẵn có của lao động chất lượng cao hơn là lao động giá rẻ.
Do đó, vai trò của các cơ sở giáo dục và đào tạo công nhân ngày càng trở nên quan trọng và do đó đòi hỏi sự trao đổi mạnh mẽ hơn giữa các cơ sở giáo dục bậc cao và khu vực tư nhân ở khu vực nay. Đây đồng thời là cơ hội dé thúc đây trao đổi giáo dục song phương. Về quản lý nguồn năng lượng và tài nguyên, sự phát triển công nghiệp đòi hỏi người ra chính sách và các tổ chức phi chính phủ cần hoạt động nhanh hơn trong việc cung cấp vốn nhằm đảm bao sử dụng bền vững va bảo vệ nguồn nước và các tài nguyên khác. Nghiên cứu về vai trò của khu KTCK, (Đặng Xuân Phong, 2012; Hà văn Hội, 2018) đã khăng định: Phát triển khu KTCK biên giới nhằm thúc đây giao thương giữa các quốc gia qua cửa khâu.
Đồng thời, tạo ra một địa bàn dé tăng cường giao lưu giữa hai nước, khai thác tiềm năng du lịch, công nghiệp dé phát triển du lịch và công nghiệp, tận dụng được các lợi thế tiềm năng của từng địa phương ở cả hai bên đường biên, huy động sự tham gia của nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội như ngoại giao, sản xuất hàng xuất khâu, nghiên cứu khoa học công nghệ, tải chính,.của các tinh, các vùng có biên giới với các nước láng giềng. Hình thành va phát triển các khu KTCK cũng chính là hình thành các đầu mối quan hệ liên vùng của hợp tác hai hành lang, một vành đai kinh tế ở khu vực phía Bắc; hợp tác phát triển hành lang kinh tế Đông - Tây ở miền Trung và hành lang kinh tế đường xuyên Á ở phía Nam. Phát triển khu KTCK biên giới sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước láng giềng và vươn tới các nước khác Thông qua việc hình thành và phát triển các khu KTCK sẽ góp phần tăng cường, mở rộng và nâng cao hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại giữa nước ta với Trung Quốc, Lào, Campuchia và qua các nước đó tới các nước khác, thúc đây phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương hai bên biên giới và cùng nhau khai thác các tiềm năng và lợi thế của khu KTCK ở mỗi bên. 13 Cũng theo VOER (2011), các khu KTCK đóng vai trò quan trọng không chi đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, mà còn tạo điều kiện chuyền dịch cơ cầu kinh tế của các địa phương theo hướng phát triển các ngành thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp, hỗ trợ phát triển đối với dịch vụ trong nước thông qua đây mạnh giao lưu kinh tế đối với nước láng giếng.
Bên cạnh đó, Phan Mạnh Hùng (2015), cũng cho rằng: Phát triển khu KTCK còn góp phần đây mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước, hướng tới mục tiêu nâng cao phúc lợi xã hội cho con người, tạo công ăn việc làm và góp phan tăng thêm tiềm lực quốc phòng tại biên giới. Bên cạnh đó, khu KTCK cũng giúp tăng thu hút vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoai, đóng góp to lớn vào Ngân sách Nhà nước.