Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư tại khu kinh tế. Thực trạng quản lý đầu tư trên địa bàn KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư vào KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi. Tổng quan tài liệu và tình hình nghiên cứu 6.
Tài liệu nghiên cứu - Giáo trình “Kinh tế Phát triển” của PGS.TS Bùi Quang Bình (2012), NXB Thông tin và truyền thông [3]. Nghiên cứu các kiến thức cơ bản về cơ sở lý luận xung quanh các lý thuyết tăng trưởng kinh tế, nguồn lực phát triển kinh tế, mô hình cũng như chính sách phát triển kinh tế của quốc gia hay của từng địa phương; chỉ ra cách thức phân bổ nguồn lực, cách thức sử dụng và phát triển các nguồn lực hợp lý để tăng trưởng kinh tế một cách bền vững; cách thức xóa đói giảm nghèo, giải quyết an sinh xã hội, giáo dục y tế. Trong đó, tác giả đã nêu lý luận, đặc điểm, vai trò nguồn lực của từng lĩnh vực trong việc phát triển kinh tế. Từ đó, nêu lên cách thức, phương pháp sử dụng các nguồn lực trong từng lĩnh vực này để phát triển kinh tế đất nước hay từng địa phương.
Trên cơ sở đó, đưa ra các chính sách phát triển đặc trưng của từng lĩnh vực nhằm tạo động lực phát triển kinh tế. Đặc biệt quan Luan van 6 tâm đến chính sách phát triển công nghiệp với phát triển kinh tế đất nước, đây là những lĩnh vực sẽ được Luận văn đi sâu nghiên cứu làm cơ sở cho lý luận và phương pháp nghiên cứu. - Sách “Quản lý nhà nước về kinh tế” của GS.TS Phan Huy Đường (2015), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội [12]. Nghiên cứu những vấn đề về lý luận chung về quản lý nhà nước về kinh tế; trong đó, nêu rõ sự cần thiết và tính khách quan trong quản lý nhà nước về kinh tế.
Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên càng thấy rõ được tầm quan trọng, vai trò của quản lý nhà nước về kinh tế đối với quá trình điều hành kinh tế vĩ mô, định hướng phát triển kinh tế trong từng giai đoạn nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế đất nước. Tác giả đã đề cập đến những đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; nêu rõ được quy luật kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế, chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và các nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế; xác định được đối tượng, nội dung quản lý nhà nước về kinh tế để từ đó biết được Nhà nước cần tập trung quản lý những gì, mức độ quản lý đến đâu để đảm bảo cho hệ thống nền kinh tế có điều kiện phát triển ổn định và bền vững. Đồng thời, trong quá trình quản lý nhà nước về kinh tế cần phải nắm được phương pháp quản lý. Trong trường hợp nào, lĩnh nào thì nên áp dụng phương pháp quản lý nào cho phù hợp, cùng với đó là phải xác định được công cụ quản lý cho phù hợp.
Xác định được sự cần thiết khách quan cần phải tiến hành đổi mới quản lý nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nêu lên những nội dung cần phải đổi mới. Trong đó, đặc biệt trong việc đổi mới bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt Nam theo hướng tinh gọn, hiệu quả, hướng đến sự phục vụ hơn là quản lý đơn thuần về mặt hành chính. Tình hình nghiên cứu Trong những năm qua, vấn đề thu hút đầu tư, quản lý đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế luôn được sự quan tâm của nhiều học giả với nhiều bài viết trên các báo, tạp chí, nhiều luận văn.
Mỗi đề tài có phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề theo một góp nhìn khác nhau, dưới đây là một số tài liệu được tác giả tham khảo chính: - Tác giả TS. Nguyễn Tấn Vinh có bài viết “Kết quả và giải pháp huy động hiệu quả nguồn vốn đầu tư của Việt Nam” đăng trên Tạp chí Lý luận Chính trị số 6-2017, đã xác định Việt Nam là quốc gia đang phát triển, công nghiệp hóa, nguồn lực còn rất hạn chế nên việc huy động và sử dụng nguồn vốn đầu tư có hiệu quả là nhân tố quyết định trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, nêu lên được xu hướng và tầm quan trọng của khu vực vốn ngoài nhà nước trong việc tăng trưởng kinh tế đất nước trong thời gian qua cũng như trong thời gian đến. Trên cơ sở đó, nêu ra một số kiến nghị mới về quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trong thời gian đến [31].
- Nguyễn Duy Diễn luận án thạc sĩ (2011) “Một số giải pháp thu hút đầu tư vào KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi” đã khái quát những vấn đề cơ bản có liên quan về tình hình quản lý nhà nước về đầu tư trên địa bàn KKT Dung Quất, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thu hút đầu tư trên địa bàn KKT Dung Quất; nêu một số tồn tại, hạn chế trong quá trình quản lý và thu hút đầu tư. Từ đó, đề xuất một số giải pháp thu hút vốn đầu tư vào KKT Dung Quất. Tuy nhiên, việc phân tích thực trạng của từng vấn đề, nội dung trong quản lý đầu tư chưa được cụ thể, chưa đi sâu vào từng nhóm vấn đề cụ thể, do đó khi đề xuất các nhóm giải pháp, tác giả chỉ nêu những nội dung mang tính định hướng, chưa đưa ra giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề để cấp chính quyền địa phương có thể xem xét vận dụng vào thực tiễn, trong đó có một số giải pháp không còn phù hợp tình hình thực tế hiện nay [11]. - Huỳnh Minh Thảo, Luận án thạc sĩ (2017), “Quản lý nhà nước về thu Luan van 8 hút các dự án đầu tư vào Khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam” đã đưa ra các nội dung lý luận cơ bản về công tác thu hút đầu tư, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về thu hút đầu tư vào KKT Mở Chu Lai trong thời gian qua.
Đồng thời, đề ra một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về thu hút các dự án đầu tư vào KKT Mở Chu Lai, trong đó đưa ra nhiều nhóm giải pháp như sau: nhóm giải pháp thể hoàn thiện thể chế; giải pháp về công tác quảng bá, xúc tiến đầu tư; giải pháp tạo môi trường đầu tư; cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư [18]. - Đỗ Minh Trí, Bùi Bằng Toàn có bài viết (2014) “Thực trạng và giải pháp đầy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư ở tỉnh Hưng Yên” đăng trên Tạp chí Khoa học và Phát triển. Bài viết đã khái quát vai trò và tầm quan trọng trong công tác cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo ra môi trường thông thoáng để thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Ngoài ra, tác giả cũng nêu thực trạng công tác cải cách thủ tục hành chính phục vụ công tác thu hút đầu tư, nhấn mạnh những kết quả đạt được trong thời gian qua của tỉnh Hưng Yên; những nhân tố chính ảnh hưởng đến công tác cải cách thủ tục hành chính.
Đồng thời, đề ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính phục vụ công tác thu hút đầu tư [25]. Qua nghiên cứu các đề tài, chuyên đề của các tác giả trên, luận văn sẽ kế thừa các nội dung sau: - Cơ sở lý luận về đầu tư, thu hút đầu tư; - Một số luận điểm về vai trò vị trí của vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước đối với việc phát triển kinh tế của từng địa phương và của cả nước. - Một số tồn tại, khó khăn trong công tác quản lý đầu tư tại các KKT. - Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả trong công tác thu hút, quản lý đầu tư tại KKT.
Ngoài ra luận văn sẽ tập trung đi sâu phân tích những tồn tại, khó khăn trong quá trình quản lý, hỗ trợ nhà đầu tư để triển khai dự án. Đặc biệt, tập trung vào phân tích những khía cạnh về thủ tục hành chính có liên quan đến Luan van 9 đầu tư; sự phối hợp, phân cấp ủy quyền của các cơ quan chính quyền địa phương trong tỉnh Quảng Ngãi trong quá trình xúc tiến, thu hút đầu tư, giải quyết thủ tục hành chính, hỗ trợ nhà đầu tư; những bất cập trong cơ chế chính sách hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp trong từng lĩnh vực của chuỗi quy trình thủ tục đầu tư, đề xuất điều chỉnh một số quy định hiện hành nhằm rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục nhà đầu tư so với hiện tại, tạo điều kiện thuận lợi nhất để nhà đầu tư triển khai dự án. Luan van 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ TẠI KHU KINH TẾ 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHU KINH TẾ 1. Một số khái niệm a. Dự án đầu tư Theo khoản 2, Điều 3, Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội nêu, “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”[16]. Khu kinh tế Theo khoản 3, Điều 2, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế nêu, “Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ”[7].
KKT được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh tế. Vai trò của khu kinh tế đối với nền kinh tế KKT có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, nhất là đối với các nước đang phát triển.