Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP 1.Khu công nghiệp 1.Khái niệm Khu công nghiệp (KCN) với tư cách là một hình thức của tổ chức lãnh thổ công nghiệp cùng với các hình thức khác (điểm công nghiệp, cụm công nghiệp, trung tâm công nghiệp, vùng công nghiệp…) được hình thành và phát triển ở một số nước tư bản vào những năm giữa thế kỷ XX. Nó được hiểu là một khu vực đất đai có ranh giới nhất định do nhà tư bản sở hữu, trước hết là xây dựng cơ sở hạ tầng và sau đó là xây dựng xí nghiệp để bán. Ở các nước châu Á, và ASEAN, KCN ra đời vào giữa sau của thế kỷ XX (Singapor năm 1951, Đài Loan 1966, Hàn Quốc 1970, Thái Lan 1972…) Ở nước ta, hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp này được hình thành vào đầu thập niên 90 của thế kỉ XX. Dù tên gọi ở mỗi nước khác nhau, nhưng về bản chất đó là KCN.
Có nhiều quan niệm khác nhau về KCN. Theo quan niệm thông thường, KCN là khu vực có tính chất độc lập trong đó có các doanh nghiệp (DN) chuyên sản xuất hàng hoá và thực hiện các hoạt động dịch vụ và có chế độ quản lý riêng. Khu chế xuất (KCX) là khu chuyên sản xuất hàng giành cho xuất khẩu, ở đó áp dụng nhiều biện pháp ưu đãi như miễn thuế (xuất-nhập khẩu, thuế tài sản…) và tự do mua bán. Theo định nghĩa đơn giản của Peddle (1993), “khu công nghiệp là một khoảng đất tương đối rộng, chia nhiều lô và được xây dựng hạ tầng và hưởng lợi thế vị trí liền kề nhau”.
KCN theo quan niệm của địa lý Liên Xô trước đây là hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp nhưng chưa thực sự thống nhất về nội dung và những đặc trưng chủ yếu. Các nhà khoa học của trường Đại học Tổng hợp Matxcơva đưa ra định nghĩa sau : “Khu công nghiệp là sự tập hợp theo lãnh thổ của những điểm công nghiệp, tạo thành sự thống nhất kinh tế và nền tảng là các ngành công nghiệp lớn có ý nghĩa toàn quốc và các ngành phục vụ có liên quan”. Ở nước ta, trong Nghị định 192/CP ngày 25/12/1994 của chính phủ đã chỉ rõ: KCN do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống. Còn theo Hội Đồng Nghiên Cứu Phát Triển Quốc Tế về KCN (WEPZA) là tất cả các khu vực được chính phủ các nước cho phép thành lập và hoạt động như cảng tự do, khu mậu dịch tự do, KCN tự do hoặc bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được tổ chức này công nhận.
Như vậy, quan niệm của WEPZA là một quan niệm rất rộng và nó đòi hỏi các chính sách quản lý có độ linh hoạt cao và mức độ "tự do hoá" khá lớn. Tuy nhiên, cũng có quan niệm cho rằng KCN là một khu vực phụ (subregion) không nhất thiết phải có sự ngăn cách biệt lập và trên thực tế có nhiều tập đoàn và tổ hợp công nghiệp với một chuỗi đồ sộ các xí nghiệp, nhà máy liên kết với nhau trên một khu vực rộng lớn và việc bố trí mặt bằng các khu sản xuất trên quy mô lớn như vậy hình thành một loại hình tổ chức mới của KCN mà không nhất thiết phải có một quy chế đặc thù. Như vậy, có thể xác định KCN là một khu vực có ranh giới rõ rệt với những thế mạnh về vị trí địa lí, về tự nhiên, kinh tế để thu hút đầu tư, hoạt động với cơ cấu hợp lí giữa các DN công nghiệp và dịch vụ có liên quan thuộc nhiều thành phần kinh tế nhằm đạt hiệu quả cao của từng DN nói riêng và tổng thể cả KCN nói chung. Có nhiều thuật ngữ đồng nghĩa với KCN như sau: Các thuật ngữ đồng nghĩa với khu công nghiệp 1.
Industrial Processing Zones (Khu chế biến công nghiệp) 5. Export Processing Zones (Khu chế xuất) 6. Science and Research Parks (Công viên khoa học và nghiên cứu) 8. High – Tech Centers (Trung tâm công nghệ cao) 9.
Bio- Technology Parks (Công viên công nghệ sinh học) 10. Eco- Industrial Parks (Công viên công nghiệp sinh thái) Nguồn: Quản lý môi trường các khu công nghiệp, INFOTERRA, 2000 1. Mục tiêu của KCN Theo các tài liệu của Liên Hiệp quốc và WEPZA, các KCN trên thế giới ra đời nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) để tăng xuất khẩu, thu hút ngoại tệ, tranh thủ kỹ thuật mới, đi đôi với chuyển giao công nghệ giải quyết nạn thất nghiệp, tăng lượng người có công ăn việc làm trong và ngoài khu, học tập và áp dụng cách quản lý kinh tế tiên tiến, tăng các khoản thu ngoại tệ cho thuê đất và cung ứng các loại dịch vụ. Mục đích quan trọng của KCN là sử dụng hiệu quả quỹ đất thúc đẩy sự phát triển các vùng, mở ra khả năng phát triển sản xuất công nghiệp ở trong nước, tăng xuất khẩu, thay đổi cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng tỷ lệ hàng công nghiệp.
KCN là một bộ phận gắn liền của chính sách mở cửa ra thế giới bên ngoài tăng cường các quan hệ trao đổi kinh tế, kỹ thuật đa phương. Ngoài ra, phát triển các KCN cũng thúc đẩy việc hình thành và phát triển các đô thị mới, phát triển các ngành công nghiệp thượng nguồn và dịch vụ, tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đạt hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích quốc gia, trong đó việc tăng thu nhập và tạo việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo và đào tạo phát triển nguồn nhân lực; xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật và hạ tầng xã hội cho sự phát triển của đất nước.Tính tất yếu khách quan của việc hình thành KCN Việc hình thành các KCN mang tính tất yếu trong từng giai đoạn lịch sử ở các quốc gia khác nhau. Các nước tư bản muốn thông qua việc xây dựng các KCN để tăng cường xuất khẩu cũng như khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, đồng thời khai thác triệt để các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của các nước. Đối với các nước đang phát triển, trong quá trình CNH với chiến lược hướng về xuất khẩu, các KCN, KCX được hình thành nhằm mục đích thu hút vốn đầu tư, công nghệ và kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển., giải quyết việc làm, tăng nguồn hàng xuất khẩu.
Hiện nay các nước đang phát triển đang ở giai đoạn đầu của quá trình CNH-HĐH, các nguồn lực cần thiết cho đầu tư phát triển là rất hạn chế. Chính vì vậy việc mở rộng hợp tác với nước ngoài tạo cơ hội thu hút vốn đầu tư. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là cần có môi trường đầu tư hấp dẫn để tạo động lực thu hút các nhà đầu tư. Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn thì không thể cùng một lúc tạo ra môi trường thuận lợi trên toàn quốc, nên việc tạo ra những khu vực có diện tích nhỏ để tập trung những điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư, tạo khả năng thu hút nguồn vốn nước ngoài là điều cần thiết và khả thi.
Bên cạnh đó việc hình thành các KCN cũng là cơ hội để phát huy sức mạnh nội lực của đất nước trong quá trình CNH-HĐH. Thực tế cho thấy vai trò quan trọng trong việc phát huy nội lực và tận dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước. Vì vậy sự ra đời của các KCN là một bước đi đúng đắn cho các nước đang phát triển trên con đường phát triển và hội nhập. Đặc điểm chung của KCN Khu công nghiệp có một số đặc điểm chính sau đây: - Có ranh giới rõ ràng với quy mô đất đai đủ lớn với vị trí địa lí thuận lợi (gần sân bay, bến cảng, đường sắt, đường ô tô…).
- Tập trung tương đối nhiều xí nghiệp công nghiệp cùng sử dụng chung cơ sở hạ tầng sản xuất xã hội, được hưởng quy chế ưu đãi riêng khác với các xí nghiệp phân bố ngoài KCN (như giá thuê đất, thuế quan, chuyển đổi ngoại tệ…), không có dân cư sinh sống. - Có Ban quản lí thống nhất để thực hiện quy chế quản lí, đồng thời có sự phân cấp rõ ràng về quản lí và tổ chức sản xuất. Về phía các xí nghiệp, khả năng hợp tác sản xuất phụ thuộc vào việc tự liên kết với nhau của từng DN. Còn việc quản lí Nhà nước được thể hiện ở chỗ Nhà nước chỉ quy định những ngành (hay loại xí nghiệp) được khuyến khích phát triển và những ngành (hoặc loại xí nghiệp) không được phép đặt trong KCN vì các lí do nhất định (như môi trường sinh thái, hay an ninh quốc phòng).
- Các KCN rất khác nhau về tính chất và về loại hình. Vì thế để tiện lợi cho việc phân loại, có thể căn cứ vào một số tiêu chí cụ thể như vị trí địa lí, tính chất chuyên môn hoá, cơ cấu và đặc điểm sản xuất, quy mô, sự độc lập hay phụ thuộc, trình độ công nghệ…Nói cách khác, dựa vào mỗi chỉ tiêu sẽ có từng cách phân loại các KCN.Phân loại KCN - Về vị trí địa lí, các KCN được hình thành ở những khu vực khác nhau. Do vậy, có thể phân ra các KCN nằm ở trung du hay vùng núi, các KCN ven biển, các KCN dọc theo quốc lộ, các KCN nằm trong các thành phố lớn. - Về tính chất chuyên môn hoá, cơ cấu và đặc điểm, có thể chia ra: các KCN chuyên môn hoá (trên cơ sở xí nghiệp chuyên môn hoá sử dụng một loại nguyên liệu cơ bản), các KCN tổng hợp (cơ cấu đa dạng với nhiều ngành sản xuất), hoặc các KCN sản xuất chủ yếu để xuất khẩu hay còn gọi là KCX.
- Về quy mô, tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai, vị trí địa lí và sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư (trong và ngoài nước), có thể chia thành các KCN có quy mô lớn, các KCN có quy mô vừa và các KCN có quy mô nhỏ. Ở nước ta, quy mô về diện tích của KCNTT có thể quy định như sau: + Quy mô lớn: trên 300 ha; + Quy mô vừa: từ 150 đến 300 ha; + Quy mô nhỏ: dưới 150 ha. - Về trình độ công nghệ, có thể chia ra một số loại KCN tuỳ thuộc vào trình độ khoa học và công nghệ của các xí nghiệp phân bố trong KCN. KCN gồm các xí nghiệp có trình độ công nghệ tiên tiến thì gọi là khu công nghệ cao và ngược lại.