Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động TTQT của NHTM Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Bình Thuận và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Bình Thuận CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LU N VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TTQT CỦA NHTM 1. Những vấn đề cơ bản về hoạt động TTQT của NHTM 1. Khái niệm về hoạt động TTQT Trong xu thế toàn cầu hoá ngày nay thật hiếm khi một quốc gia lại tự sản xuất mọi thứ mình cần.
Mỗi nước đều có lợi thế so sánh hơn về một mặt hàng nào đó so với nước khác và họ sẽ sản xuất mặt hàng này để đổi lấy những mặt hàng khác không có lợi thế. Việc trao đổi vượt ra khỏi biên giới một quốc gia hình thành nên hoạt động xuất nhập khẩu, kết quả của hành vi này là việc chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau. Từ đó hình thành nghiệp vụ TTQT, trong đó NHTM là cầu nối trung gian. Thanh toán quốc tế (TTQT) là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với các tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan (Nguyễn Văn Tiến, 2009).
Từ khái niệm cho thấy TTQT phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế. Vì vậy, trong quy chế về thanh toán và thực tế tại các NHTM, người ta thường phân TTQT thành hai lĩnh vực rõ ràng là: thanh toán ngoại thương (còn được gọi là thanh toán mậu dịch) và thanh toán phi ngoại thương (tức là thanh toán phi mậu dịch). Thanh toán ngoại thương là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hoá XNK và các dịch vụ thương mại cung ứng cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế. Hợp đồng ngoại thương là cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau.
Thanh toán phi ngoại thương là việc thanh toán không liên quan tới hàng hoá XNK cũng như cung ứng các dịch vụ cho nước ngoài nghĩa là thanh toán cho các hoạt động không mang tính thương mại. Đó là trợ cấp của cá nhân người nước ngoài cho cá nhân trong nước, nguồn trợ cấp của một tổ chức từ thiện nước ngoài 1 cho tổ chức đoàn thể trong nước, hay là việc chi trả các chi phí của cơ quan ngoại giao ở nước ngoài. Nhìn chung hoạt động ngoại thương có một số điểm khác cơ bản so với hoạt động nội thương, trong đó hoạt động ngoại thương liên quan đến: Người mua và người bán ở hai nước hoặc hai quốc tịch khác nhau. Đồng tiền sử dụng trong thanh toán có thể là đồng tiền của một trong hai nước hoặc đồng tiền của nước thứ ba.
Hàng hoá mua bán thường dịch chuyển qua biên giới giữa các nước, đi từ nước người bán đến nước người mua. Luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán và thanh toán chứa đựng yếu tố quốc tế, kiểm soát ngoại hối, tỷ giá và các chính sách hạn chế ngoại thương của chính phủ. Có thể nói, TTQT phát sinh dựa trên cơ sở hợp đồng ngoại thương, thanh toán là khâu cuối cùng của một quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, là cầu nối giữa người sản xuất và tiêu dùng thông qua chi trả lẫn nhau trong nghiệp vụ TTQT. Vì hoạt động TTQT được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng nên khi nói đến hoạt động TTQT là nói đến hoạt động thanh toán của NHTM, và các NHTM đang không ngừng phát triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, trong đó lấy hoạt động TTQT làm trọng tâm phát triển.
Đặc điểm của hoạt động TTQT Hoạt động TTQT chịu sự chi phối của luật pháp quốc tế: Các chủ thể tham gia hoạt động TTQT là các tổ chức, cá nhân ở các quốc gia khác nhau. Do đó có sự khác biệt về địa lý, phong tục tập quán, ngôn ngữ, lập pháp. nên dễ dẫn đến các bên không thống nhất cách hiểu và khả năng xảy ra tranh chấp và rủi ro rất lớn. Vì vậy, hoạt động TTQT nói riêng và giao thương quốc tế nói chung trên toàn cầu chịu sự điều chỉnh của các bộ luật, quy tắc, công ước…mang tính quốc tế được ký kết song phương(giữa hai quốc gia) hay đa phương(nhiều quốc gia).
Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, không chỉ giải quyết theo những văn bản pháp lý ở nước sở tại mà còn phải tuân theo những hiệp ước quốc tế đã được các 2 bên thỏa thuận. Các văn bản pháp lý quốc tế này chi phối hoạt động thanh toán đối ngoại của các NHTM hiện nay (Nguyễn Văn Tiến, 2009). Hoạt động TTQT chịu rủi ro cao: Trong hoạt động TTQT, hành vi mua bán hay trao đổi hàng hóa và dịch vụ diễn ra giữa các quốc gia khác nhau, do đó nó chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với thanh toán nội địa. Những rủi ro mà thanh toán nội địa thường gặp phải như: lừa đảo, mất khả năng thanh toán.
cũng luôn tiềm ẩn trong hoạt động TTQT, nhưng với qui mô và mức độ nguy hiểm lớn hơn nhiều lần. Mặt khác, trong hoạt động TTQT còn phát sinh một số loại rủi ro khác mà thanh toán nội địa không có như: rủi ro chính trị, rủi ro pháp lý, rủi ro thị trường, rủi ro tỷ giá.lại càng làm cho hoạt động TTQT trở nên nhiều rủi ro hơn. Hầu hết các giao dịch TTQT đều tách rời giữa khâu thanh toán và chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa: Trong các giao dịch TTQT, việc thanh toán tiền không diễn ra đồng thời với việc giao hàng. Đồng tiền sử dụng trong thanh toán có thể là nội tệ hay ngoại tệ: Trong quan hệ TTQT, các bên đối tác cùng quan tâm đến những vấn đề có lợi nhất cho mình, bởi vậy các bên phải tiến hành đàm phán về các vấn đề như: điều kiện tiền tệ, điều kiện đảm bảo hối đoái, điều kiện về thời gian thanh toán.
Khác với thanh toán nội địa, TTQT thường gặp nhiều rủi ro do sự biến động của tiền tệ, sự bất ổn chính trị của một quốc gia, do vị trí địa lý của các bên tham gia cách xa nhau làm hạn chế việc tìm hiểu khả năng thanh toán của con nợ. Do vậy, các nghiệp vụ đảm bảo, bảo lãnh của NH, hoạt động tín dụng của các tổ chức tiền tệ, tài chính quốc tế ra đời như một yếu tố không thể thiếu để hỗ trợ hoạt động TTQT. Vai trò của hoạt động TTQT Thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế Trước xu thế kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hoá, TTQT ngày càng đóng vai trò hết sức quan trọng, nổi lên như chiếc cầu nối giữa kinh tế trong nước với kinh tế thế giới, có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK hàng hoá và 3 dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác. Hoạt động TTQT ngày càng được khẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng.
Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, mỗi quốc gia đều đặt hoạt động kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi đây là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước. Vì vậy, hoạt động TTQT có vai trò rất quan trọng với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia (Nguyễn Văn Tiến, 2009). Thanh toán quốc tế đối với ngân hàng thương mại Đối với hệ thống ngân hàng, TTQT là dịch vụ mang lại lợi nhuận cao với rủi ro tương đối thấp. Với chức năng trung gian thanh toán, NHTM cung cấp dịch vụ thanh toán nước ngoài đáp ứng nhu đa dạng cho các tổ chức,cá nhân với nhiều phương thức từ đơn giản đến phức tạp như: chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ…và thu về khoản phí để bù đắp chi phí vận hành và tạo thu nhập cho ngân hàng.
So với hoạt động cho vay, thu nhập từ hoạt động thanh toán thuần túy chịu rủi ro thấp hơn do ngân hàng chỉ làm trung gian giao dịch. TTQT có mối quan hệ tương hỗ với các hoạt động kinh doanh khác của NHTM như kinh doanh ngoại tệ, tài trợ ngoại thương, bảo lãnh, đầu tư, ngân quỹ… Thông qua TTQT, NHTM dễ dàng mua bán ngoại tệ với các doanh nghiệp có nguồn thu hoặc chi trả ngoại tệ, thuận tiện cho việc cung ứng vốn cho các nhà XNK bằng nghiệp vụ tài trợ thương mại hay bảo lãnh ngoại thương…Ngược lại, các dịch vụ ngân hàng khác phát triển tạo cơ hội mở rộng hoạt động TTQT, chẳng hạn qua hoạt động kinh doanh ngoại hối, NHTM có nguồn ngoại tệ bán cho doanh nghiệp nhập khẩu để thực hiện hoạt động chi trả với đối tác nước ngoài góp phần gia tăng doanh số thanh toán,mở rộng phạm vi giao dịch. TTQT góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM. Việc cung ứng dịch vụ TTQT giúp NHTM đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng khi thực hiện giao dịch kinh tế đối ngoại như thương mại, đầu tư, du học…từ đó thu hút được khách hàng góp phần tăng doanh số giao dịch, mở rộng thị phần.
Nghiệp vụ Ngân hàng đại lý trong hoạt động TTQT của các NHTM Quan hệ đại lý có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động ngân hàng ngày nay. Để thực hiện nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, đặc biệt là TTQT, mỗi ngân hàng cần thiết lập quan hệ đại lý với các định chế tài chính, ngân hàng ở các quốc gia khác nhau, nhất là tại các quốc gia đã có Hiệp định thương mại song phương.Thiết lập quan hệ đại lý là sự khởi đầu của việc thiết lập quan hệ hợp tác song phương giữa hai ngân hàng bằng sự trao đổi Swift Code và các hồ sơ pháp lý cho nhau nhằm mục đích phục vụ các hoạt động TTQT. Bất kỳ một ngân hàng nào cũng đều gặp hạn chế khi tham gia vào một thị trường tài chính nhất định. Những hạn chế đó có thể là về không gian (do khác lãnh thổ), thời gian (do chênh lệch múi giờ), tập quán kinh doanh, năng lực kết nối, thông tin và mối liên hệ với khách hàng, thị trường, tập quán giao dịch, luật lệ địa phương,…Do vậy, tổ chức này phải sử dụng các dịch vụ của tổ chức tài chính khác để thực hiện các giao dịch nhất định nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất.