CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG SIÊU THỊ 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SIÊU THỊ VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG SIÊU THỊ 1. Khái niệm và phân loại siêu thị a. Khái niệm siêu thị, hệ thống siêu thị “Siêu thị” là từ được dịch ra từ tiếng nước ngoài – “Supermarket” (tiếng Anh) hay “Supermarché” (tiếng Pháp).
Siêu thị ra đời lần đầu tiên vào năm 1930 tại Mỹ. Hiện nay, khái niệm siêu thị được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Nước Mỹ coi siêu thị là “cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn có mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối lượng hàng hóa bán ra lớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa, và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa.630] Siêu thị ở pháp được định nghĩa là “cửa hàng bán lẻ theo phương thức tự phục vụ, có diện tích từ 400 m2 đến 2.500 m2 chủ yếu bán hàng thực phẩm và vật dụng trong gia đình” (Marc Benoun, “Marketing” Savoir et savoir – faire”, 1991). Tại Anh, siêu thị là cửa hàng bán thực phẩm, đồ uống và các loại hàng hóa khác, siêu thị thường đặt tại thành phố dọc đường cao tốc trong khu buôn bán, có diện tích khoảng từ 4.
Ở Việt Nam, Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, đảm bảo chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng”. Luan van 7 Tóm lại, có thể có rất nhiều khái niệm khác nhau về siêu thị nhưng người ta vẫn thấy những nét chung nhất cho phép phân biệt siêu thị với các dạng cửa hàng bán lẻ khác. Đó là: - Dạng của hàng bán lẻ - Áp dụng phương thức bán hàng tự phục vụ - Chủ yếu là hàng hóa tiêu dùng phổ biến Hệ thống siêu thị là khái niệm dùng để chỉ mạng lưới cửa hàng bán lẻ hợp nhất áp dụng phương pháp bán hàng tự phục vụ, các hàng hóa tiêu dùng phổ biến của người dân. Hệ thống siêu thị được cấu thành bởi các siêu thị có liên kết chặt chẽ và có những tương tác nhất định.
Theo đó, hệ thống siêu thị là một hệ thống mở, một tập hợp các siêu thị lớn nhỏ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có những đặc trưng riêng biệt nhằm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Phân loại siêu thị Có nhiều cách phân loại siêu thị dựa trên các tiêu thức khác nhau, và tùy thuộc vào điều kiện của từng quốc gia. Tuy nhiên, có hai cách phân loại rất phổ biến đó là phân loại theo quy mô và phân loại theo hàng hóa kinh doanh: - Phân loại theo quy mô: o Siêu thị nhỏ: Là cửa hàng bán lẻ nhỏ, chủ yếu bán hàng thực phẩm theo phương thức tự phục vụ, hợp nhất, thường nằm giữa các khu dân cư đô thị (ở Pháp quy định diện tích bán hàng từ 120 m2 đến dưới 240 m2, ở Thái Lan cũng quy định cụ thể diện tích mặt bằng cho các minimart….) o Siêu thị vừa: Thường có quy mô và diện tích mặt bằng vừa phải, hàng hóa dùng để phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày. Các siêu thị ở Pháp thường có diện tích từ 400 – 2.500 m2, và các siêu thị ở Mỹ thường có diện tích trung bình là 1.
Số lượng hàng hóa thường từ vài trăm đến Luan van 8 20. Các siêu thị này thường được đặt ở các khu dân cư có đường giao thông thuận tiện. o Đại siêu thị: Được định nghĩa là cửa hàng thương mại bán lẻ khối lượng lớn tại một địa điểm, dựa trên nguyên tắc bán hàng tự phục vụ và quy mô lớn hơn nhiều sơ với siêu thị, thường nằm ở ngoại ô các thành phố lớn có bãi đổ xe rộng. Đại siêu thị ở Anh là siêu cửa hàng với diện tích trên 50.
Đại siêu thị ở Pháp và Hoa Kỳ có khi có diện tích lên đến 100. Danh mục hàng hóa có thể lên tới 50. - Phân loại siêu thị theo hàng hóa kinh doanh: o Siêu thị chuyên doanh: Siêu thị chuyên doanh là siêu thị chỉ chuyên bán một số chủng loại hàng hóa nhất định, tập hợp hàng hóa tuy hẹp nhưng sâu, có khả năng đáp ứng nhu cầu cao của người tiêu dùng. Ví dụ: Siêu thị sách, siêu thị điện máy, siêu thị đồ chơi, siêu thị mỹ phẩm.
o Siêu thị tổng hợp: Siêu thị tổng hợp là siêu thị bán nhiều loại hàng hóa cho nhiều loại khách hàng. Hiện nay, siêu thị tổng hợp đang ngày càng thịnh hành, có những siêu thị có danh mục hàng hóa vừa rộng vừa sâu có thể lên tới hàng chục ngàn loại sản phẩm. Tại những siêu thị tổng hợp lớn như vậy, khách hàng có thể mua được hầu hết tất cả các loại hàng hóa đáp ứng đủ nhu cầu phục vụ cho sinh hoạt và cuộc sống, mà không cần phải bước ra khỏi siêu thị để đến một siêu thị khác.2 Cấu trúc cơ bản về tổ chức và hoạt động của siêu thị a. Tiêu chuẩn siêu thị Siêu thị đạt chuẩn là các siêu thị có địa điểm phù hợp với quy hoạch phát triển thương mại của địa phương, đáp ứng được các tiêu chuẩn cơ bản theo quy định tại Quyết định 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24/9/2004 của Bộ Công Thương.
Tiêu chuẩn siêu thị được phân làm 3 hạng [2, tr.3], cụ thể như sau: Luan van 9 - Về diện tích, số lượng, tên hàng: Bảng 1.1: Tiêu thức phân hạng siêu thị Tiêu chuẩn tối thiểu Hạng Loại hình Diện tích Danh mục hàng (m2) hóa (mặt hàng) Siêu thị kinh doanh tổng hợp 5.000 Hạng I Siêu thị chuyên doanh 1.000 Siêu thị kinh doanh tổng hợp 2.000 Hạng II Siêu thị chuyên doanh 500 1.000 Hạng Siêu thị kinh doanh tổng hợp 500 4.000 III Siêu thị chuyên doanh 250 500 Nguồn: Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ban hành quy chế siêu thị, TTTM - Về quy mô, trang thiết bị kỹ thuật, trình độ tổ chức: o Đối với siêu thị hạng I: Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ cao, có thiết kế và trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho mọi đối tượng khách hàng; có bố trí nơi trông giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của Siêu thị; Có hệ thống kho và các thiết bị kỹ thụât bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến, hiện đại; Tổ chức, bố trí hàng hoá theo ngành hàng, nhóm hàng một cách văn minh, khoa học để phục vụ khách hàng lựa chọn, mua sắm, thanh toán thuận tiện, nhanh chóng; có nơi bảo quản hành lý cá nhân; có các dịch vụ ăn uống, giải trí, phục vụ người khuyết tật, phục vụ trẻ em, giao hàng tận nhà, bán hàng mạng, qua bưu điện, điện thoại. o Đối với siêu thị hạng II: Luan van 10 Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ, có thiết kế và trang thiết bị kỹ thuật hiện đại đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho khách hàng; có bố trí nơi trông xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của siêu thị; Có kho và các thiết bị kỹ thuật bảo quản, đóng gói, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh doanh hiện đại; Tổ chức, bố trí hàng hoá theo ngành hàng, nhóm hàng một cách văn minh, khoa học để phục vụ khách hàng lựa chọn, mua sắm, thanh toán thuận tiện, nhanh chóng; có nơi bảo quản hành lý cá nhân; có các dịch vụ ăn uống, giải trí, phục vụ người khuyết tật, phục vụ trẻ em, giao hàng tận nhà, bán hàng qua bưu điện, điện thoại. o Đối với siêu thị hạng III: Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có thiết kế và trang thiết bị kỹ thuật đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn, thuận tiện cho khách hàng; có bố trí nơi trông giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của siêu thị; Có kho và các thiết bị kỹ thuật bảo quản, đóng gói, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh doanh hiện đại; Tổ chức, bố trí hàng hoá theo ngành hàng, nhóm hàng một cách văn minh, khoa học để phục vụ khách hàng lựa chọn, mua sắm, thanh toán thuận tiện, nhanh chóng; có nơi bảo quản hành lý cá nhân, có các dịch vụ phục vụ người khuyết tật, giao hàng tận nhà. Cấu trúc cơ bản về tổ chức và hoạt động của siêu thị - Siêu thị độc lập: Đây là dạng siêu thị có quy mô nhỏ và vừa, thuộc quyền sở hữu của một gia đình hay công ty nhỏ.
Số lượng nhân viên, hàng hóa ở mức trung bình hoặc thấp. Cấu trúc tổ chức tổng quát thích hợp theo Luan van 11 dạng chức năng. - Siêu thị mắc xích: Được điều hành bởi các công ty, tập đoàn lớn, hoạt động trên địa bàn rộng. Cấu trúc tổ chức thích hợp theo dạng ma trận, cho phép siêu thị tận dụng các lợi thế về vốn và nguồn nhân lực.
· Hoạt động của các bộ phận chức năng: - Bộ phận khách hàng: Bộ phận này có hoạt động chủ yếu là mua đúng hàng để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng, đảm bảo đúng về số lượng, chất lượng quy cách mẫu mã, chủng loại của hàng hóa. - Bộ phận hoạt động: Có nhiệm vụ quản lý, trưng bày hàng hóa, và bán hàng thực hiện các dịch vụ khác. - Bộ phận Marketing: Nhiệm vụ chính là nghiên cứu thị trường, đề ra các chiến lược Marketing và có biện pháp thực hiện hiệu quả. - Hệ thống thông tin quản lý của siêu thị: Thông tin về số lượng hàng hóa, số lượng giao dịch diễn ra.
Ưu thế và hạn chế của siêu thị - Ưu thế của siêu thị: Siêu thị có quy mô lớn với phương thức kinh doanh văn minh, hiện đại, hàng hóa và dịch vụ phong phú đem lại nhiều lợi ích cho KH và nhà sản xuất. Do siêu thị có quy mô lớn được tổ chức theo phương thức tự phục vụ nên có khả năng giảm chi phí bán hàng, tiết kiệm chi phí phân phối, bảo quản. Hàng hóa trong siêu thị được niêm yết giá cả rõ ràng giúp thuận tiện và tiết kiệm thời gian cho người mua.