CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BAN VE PHÁT TRIEN HE THONG LOGISTICS XANH CAP TINH 1. Khái quát về logistics và hệ thống logistics xanh cấp tinh. Khái quát về logistics. Khái niệm logistics Trên thế giới cũng như Việt Nam hiện nay chưa thống nhất khái niệm về logistics.
Nhưng về cơ bản có thé hiểu một cách bao quát, logistics là “một quá trình tổ chức lưu thông, phân phối hàng hóa và dịch vụ từ khâu chuẩn bị sản xuất tới khi người tiêu dùng cuối cùng nhận được hàng hóa đó.” Theo hội đồng quản trị Logistics của Hoa Kì: “Logistics là quá trình hoạch định, tô chức thực hiện và kiểm soát một cách có hiệu quả quá trình lưu chuyên, dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến điểm tiêu dùng cuối cùng nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng”. Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng: “logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và chu chuyền các tài nguyên/ yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế (Logistics and Supply Chain Management — Ma Shuo - 1999)”. Theo Liên Hợp Quốc: “Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng” Theo Ủy ban Quản ly logistics của Hoa Ky: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu dé thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng”. Như vậy, logistics xuất hiện từ khi đưa nguyên vật liệu vào sản xuất và trong khi hàng hóa được sản xuất.
Sau khi hàng hóa đã hoàn thiện, logistics lại đóng vai trò đưa hàng hóa đến các nhà phân phối và sau cùng là đến với người tiêu dùng. Logistics theo nghĩa hep: “được hiểu như là các hoạt động dịch vụ gắn liền với quá trình phân phối, lưu thông hàng hóa và gắn với các dich vụ cụ thé”. Dịch vụ Logistics lần đầu tiên được định nghĩa trong Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): “Dịch vu logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tô chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyền, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng đề hưởng thù lao”. Tuy nhiên, đây mới chỉ là định nghĩa về dich vụ logistics, luật này chưa nói đến khái niệm logistics.
Đặc điển logistics Logistics là “một chuỗi hoạt động liên tực, là một quá trình chứ không phải hoạt động đơn lẻ, quá trình này bao gồm nhiều công đoạn liên quan và trực tiếp tác động lẫn nhau, được thực hiện một cách bài bản, khoa học, có hệ thống thông qua các bước: nghiên cứu, hoạch định, tô chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện. Do đó logistics xuất hiện trong mọi giai đoạn từ khâu đầu vào nguyên vật liệu cho đến khi người tiêu dùng sở hữu sản phẩm trong tay. Dé tạo sản phẩm, dịch vụ phù hợp với yêu cầu của khách hàng, logistics cần tat cả các nguồn tài nguyên hay yếu tố đầu vào phù hợp. Do không chỉ là nhân lực, vật lực mà còn cả dịch vụ, thông tin, công nghệ,.
Logistics tồn tại ở hai cấp độ: hoạch định và tổ chức. Ở cấp độ hoạch định vấn dé đặt ra đối với logistics là nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm hay dịch vụ, .lấy ở đâu, khi nào, như thé nào và vận chuyên chúng di đâu? Do vậy tại đây xuất hiện vấn đề về vị trí. Cấp độ tổ chức quan tâm đến việc làm thé nào dé đưa được nguôn tài nguyên/các yếu tố đầu vào từ điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền cung ứng”. Khái quát về hệ thông logistics 1.
Khái niệm hệ thong logistics Theo từ điển bách khoa: “hệ thống là tập hợp các phần tử có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động lẫn nhau theo một số quy luật nhất định dé cùng nhau trở thành một chỉnh thé. Từ đó xuất hiện tính trồi là một thuộc tính mới của hệ thống mà từng phan tử riêng lẻ không có hoặc có không đáng kể. Một phan tử là phần từ của một hệ thống thì mỗi phần tử phải có chức năng nhất định và mỗi phần tử có tính độc lập tương đối của nó. Hệ thống liên quan chặt chẽ đến kết cấu.
Nếu như kết cấu là tập hợp các mối liên hệ và quan hệ giữa các phần tử của thê thống nhất đó thì hệ thống là một tập hợp các phần tử có liên kết và quan hệ chặt chẽ với nhau. Như vậy một hệ thống luôn luôn có kêt câu và kêt câu năm trong hệ thông. Kêt câu phản ánh sự săp xêp của các phần tử và sự tác động lẫn nhau của các mặt và các thuộc tính của chúng. Kết cấu sẽ giải thích cho chúng ta hiểu vì sao bản chất của hệ thống nói chung không giống với tông số bản chất của các phan tử tạo thành.
Các phần tử của hệ thống trên thực tế không phải là những điểm trừu tượng, mà là những hệ thống phức tạp. Mỗi phần tử có nhiều thuộc tính, nhiều mặt, khi tác động, ảnh hưởng lẫn nhau với các phần tử khác của hệ thống thì chỉ có một số mặt, một số thuộc tính nào đó tham gia chứ không phải tat cả. Vì vậy, tính chất của các liên hệ phụ thuộc vào đặc điểm của các mặt nào đó của các phần tử tham gia tác động. Như vậy, những tính chất của các phần tử tham gia tác động lẫn nhau càng lớn thì cấu trúc của hệ thông càng phức tạp.
Khi cùng một số phần tử tác động lẫn nhau bằng những khía cạnh khác nhau có thé tạo nên những hệ thống khác nhau.” Hệ thống hoạt động dựa trên những quy luật, nếu tách riêng lẻ hệ thống thành nhiều phần thì các qui luật này sẽ không còn nhận dạng được. Bên cạnh đó nếu một hoặc một số phần tử bị loại bỏ hoặc thay đổi thì hệ thống sé gap trục trac. Các phan tử cùng nhau tạo sự liên kết va thong nhất phương thức dé giải thích và nhìn nhận tổng quan toàn bộ hệ thống. Tương tự đối với hệ thống logistics cũng cần có cả tính trồi và tính nhất thé hóa.
Mỗi phần tử trong hệ thống logistics phải có chức năng nhất định và sự độc lập tương đối. Hệ thống logistics cũng cần có đủ tập hợp các yếu tố và các yếu tố đó liên hệ chặt chẽ với nhau; có đầu vào đầu ra, có tính chất riêng, hoạt động theo quy luật. Dé tăng hiệu quả và tiết kiệm chi phí, hệ thống logistics cần kiểm soát tốt đầu vào và đầu ra. Tắt cả những hoạt động có quan hệ liên quan mật thiết với nhau phục vụ mục đích chuyên nguyên liệu vào sản xuất hàng hóa và đưa hàng hòa từ nhà cung cấp đến các đại lý và đến tay người tiêu dùng cuối cùng sẽ tạo nên một hệ thống logistics.
Nhiều chức năng như thu mua, phân phối hiện vat, vận tải, sản xuất và thông tin liên lạc được tích hợp vào hệ thống logistics. Theo giác độ là hệ thống kinh doanh dịch vụ, hệ thống logistics bao gồm các công ty nha nước, các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực logistics cả trong và ngoài nước cùng các trung tâm logistics, kho bãi, cửa hàng chuyên phát,. Theo Viện Nghiên cứu Kinh tế vận tải và Logistics CHLB Đức, hệ thống logistics bao gồm, kiến thức logistics, thiết chế công, các dịch vụ logistics, cầu trúc cơ bản (cơ sở hạ tầng). Theo kinh tế truyền thống, sau khi phát sinh nhu cầu về vận chuyên hàng hóa, các dịch vụ tương ứng sẽ được hình thành nhưng rời rạc, riêng lẻ và không liên kết thành một chuỗi liên kết hoạt động logistics được xây dựng trước.
Về tong thể, hệ thống logistics là một chuỗi chu chuyền hàng hóa, trong đó bao gồm các tô chức, doanh nghiệp trung gian, các nhà vận chuyên, tô chức kinh tế phân bồ theo vị trí địa ví khác nhau trong phạm vi trong nước và quốc tế. Hệ thống logistics vĩ mô là cơ sở vật chất hạ tầng quan trọng của một quốc gia hay khu vực kinh tế. Từ trước đến nay, việc xây dựng phát triển hệ thống logistics với qui mô toàn cầu luôn gặp rất nhiều trở ngại do khác biệt về chính sách, luật pháp, đặc trưng kinh tế từng khu vực, trình độ phát triển, văn hóa, và quan hệ giữa các quốc gia. Chính vì thế mà cần một không gian kinh tế đồng nhất, một thị trường không ranh giới, không khác biệt và được điều tiết chung bởi một hệ thống luật pháp về hải quan, thông tin, vận tải, tài nguyên lao động.
Theo quan hệ kinh tế, hệ thống logistics thường được phân loại theo các tiêu thức: đặc điểm hệ thống quản lý, đặc điểm hình thành, đặc điểm khâu trung gian, thời hạn hiệu lực, hình thức vận động. “Hệ thống logistics vĩ mô gồm các hệ thống logistics vi mô, đó là các tô chức sản xuất vùng, doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp kinh doanh. Ngoài ra, hệ thống logistics vi mô còn có thé là các hệ thống logistics trong một doanh nghiệp”. Vai trò của hệ thong logistics Vai trò thứ nhất, hệ thống logistics sẽ gắn kết chuỗi giá trị, đưa các nước trở thành một mắt xích trong mạng lưới toàn thế giới.
Khi kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển, nhu cầu mở rộng thị trường tăng cao đi kèm với đó là sự phát triển về khoa học công nghệ thì hệ thong logistics được coi như một công cu dé liên kết mọi hoạt động như cung cấp nguyên vật liệu, sản xuất hàng hóa, lưu thông sản phẩm, mở rộng thị trường. Hệ thống logistics là công cụ quan trọng, giúp thúc day kinh tế các nước đang phát triển, giúp liên kết các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế. Thứ hai, hệ thống logistics giúp xóa mở biên giới giữa các nước và thị trường thương mại được mở rộng, khách hàng được lựa chọn nhiều hơn và day mạnh sức tiêu thụ.