Luận Văn Thạc Sĩ Về Lãnh Đạo Phát Triển Giáo Dục Phổ Thông Tỉnh Hưng Yên (1996-2016)

Luận văn thạc sĩ giáo dục phân tích ussh đảng bộ tỉnh hưng yên lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2016, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2019

94
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN VỀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005

1.1. Các yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về giáo dục phổ thông

1.1.1. Chủ trương phát triển giáo dục phổ thông của Đảng

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2016

2.1. Tình hình nhiệm vụ mới của tỉnh Hưng Yên và chủ trương của Đảng về giáo dục phổ thông từ năm 2006 đến năm 2016

2.2. Chủ trương và quá trình chỉ đạo phát triển giáo dục phổ thông của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 2006 đến năm 2016

2.2.1. Chủ trương phát triển giáo dục phổ thông của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên

2.2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên

2.2.2.1. Tiếp tục mở rộng quy mô nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
2.2.2.2. Đẩy mạnh xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
2.2.2.3. Đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học
2.2.2.4. Thực hiện xã hội hóa giáo dục

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

3.1. Một số kinh nghiệm

3.1.1. Kinh nghiệm trong xác định chủ trương

3.1.2. Kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Giáo Dục Phổ Thông Tỉnh Hưng Yên 1996 2016

Trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2016, tỉnh Hưng Yên đã có những bước tiến quan trọng trong việc phát triển giáo dục phổ thông. Đảng bộ tỉnh đã xác định giáo dục là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Những chính sách và chủ trương của Đảng đã tạo ra những thay đổi tích cực trong chất lượng giáo dục, từ việc phổ cập giáo dục tiểu học đến nâng cao chất lượng giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông.

1.1. Lịch Sử Phát Triển Giáo Dục Phổ Thông Tại Hưng Yên

Từ năm 1996, tỉnh Hưng Yên đã bắt đầu thực hiện các chính sách phát triển giáo dục phổ thông. Những nỗ lực này đã giúp tỉnh hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2001. Những thành tựu này không chỉ nâng cao trình độ dân trí mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của tỉnh.

1.2. Vai Trò Của Đảng Bộ Tỉnh Trong Phát Triển Giáo Dục

Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông. Các nghị quyết và chủ trương của Đảng đã tạo ra khung pháp lý và điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư vào giáo dục, từ cơ sở vật chất đến đội ngũ giáo viên.

II. Những Thách Thức Trong Phát Triển Giáo Dục Phổ Thông Tỉnh Hưng Yên

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, giáo dục phổ thông tại Hưng Yên vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Các vấn đề như chất lượng giáo dục, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên vẫn cần được cải thiện. Những thách thức này đòi hỏi sự quan tâm và đầu tư liên tục từ cả chính quyền và cộng đồng.

2.1. Chất Lượng Giáo Dục Còn Hạn Chế

Chất lượng giáo dục tại Hưng Yên vẫn chưa đồng đều giữa các khu vực. Một số trường học ở vùng sâu, vùng xa vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực giáo dục, dẫn đến chất lượng giảng dạy không đạt yêu cầu.

2.2. Cơ Sở Vật Chất Chưa Đáp Ứng Nhu Cầu

Nhiều trường học vẫn thiếu thốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình dạy và học, làm giảm hiệu quả giáo dục.

III. Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề Giáo Dục Phổ Thông Tại Hưng Yên

Để khắc phục những thách thức trong phát triển giáo dục, tỉnh Hưng Yên đã áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp khác nhau. Các chương trình cải cách giáo dục đã được triển khai nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.

3.1. Đầu Tư Vào Cơ Sở Vật Chất

Tỉnh đã chú trọng đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất cho các trường học, đảm bảo môi trường học tập an toàn và hiện đại. Việc này không chỉ giúp cải thiện chất lượng giáo dục mà còn thu hút học sinh đến trường.

3.2. Đào Tạo Đội Ngũ Giáo Viên Chất Lượng

Để nâng cao chất lượng giáo dục, tỉnh Hưng Yên đã tổ chức nhiều khóa đào tạo và bồi dưỡng cho giáo viên. Việc này giúp giáo viên cập nhật kiến thức mới và cải thiện phương pháp giảng dạy.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Về Giáo Dục Phổ Thông

Kết quả nghiên cứu cho thấy, những nỗ lực trong phát triển giáo dục phổ thông đã mang lại nhiều thành công. Tỉnh Hưng Yên đã đạt được nhiều chỉ tiêu quan trọng trong giáo dục, từ tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đến chất lượng đào tạo.

4.1. Tỷ Lệ Học Sinh Tốt Nghiệp Tăng Cao

Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học và trung học cơ sở tại Hưng Yên đã tăng đáng kể trong những năm qua. Điều này cho thấy sự cải thiện trong chất lượng giáo dục và sự nỗ lực của cả hệ thống giáo dục.

4.2. Đánh Giá Chất Lượng Giáo Dục

Các cuộc khảo sát và đánh giá chất lượng giáo dục đã chỉ ra rằng, mặc dù còn nhiều thách thức, nhưng chất lượng giáo dục tại Hưng Yên đã có những bước tiến rõ rệt, đáp ứng nhu cầu của xã hội.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Giáo Dục Phổ Thông Tại Hưng Yên

Tương lai của giáo dục phổ thông tại Hưng Yên phụ thuộc vào sự tiếp tục đầu tư và cải cách. Đảng bộ tỉnh cần duy trì các chính sách hỗ trợ và phát triển giáo dục, nhằm đảm bảo rằng mọi học sinh đều có cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng.

5.1. Định Hướng Phát Triển Giáo Dục Trong Tương Lai

Tỉnh Hưng Yên cần tiếp tục xây dựng các chương trình giáo dục phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Việc này sẽ giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho tỉnh trong tương lai.

5.2. Tăng Cường Hợp Tác Giữa Các Cơ Quan

Sự hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức và cộng đồng là rất quan trọng trong việc phát triển giáo dục phổ thông. Các chương trình hợp tác sẽ giúp chia sẻ nguồn lực và kinh nghiệm, từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2005. Chương 2: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo đẩy mạnh phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2006 đến năm 2016. Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƢNG YÊN VỀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005 1.

Các yếu tố tác động và chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Hƣng Yên về giáo dục phổ thông 1. Chủ trương phát triển giáo dục phổ thông của Đảng Chủ trương của Đảng, là kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục vào tình hình thực tiễn nước ta nên sớm có những chủ trương phát triển giáo dục. Tuỳ từng giai đoạn, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà Đảng có những quan điểm chỉ đạo, chủ trương và giải pháp phù hợp. Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) Đảng đã ra Nghị quyết tiến hành cải cách giáo dục, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 14 về cải cách giáo dục.

Trong những năm đầu đã triển khai ở cấp GDPT với cơ cấu hệ thống GDPT mới, tiến hành thay sách giáo khoa bắt đầu từ năm học 1981- 1982 ở lớp 1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI cuộc cải cách giáo dục đã được điều chỉnh theo đường lối mới chung. Chủ trương của Đảng về GDPT là “xoá bỏ nạn mù chữ còn lại ở một số địa phương, hình thành cơ bản phổ cập cấp I cho trẻ em, phổ cập cấp II ở những nơi có điều kiện, từng bước mở rộng GDPT trung học bằng nhiều hình thức. Các trường phổ thông phải dạy kiến thức phổ thông cơ bản, lao động, kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông” [11, tr 8].

Và khẳng định kế hoạch phát triển giáo dục phải gắn bó với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở từng địa phương và trong cả nước. Đến Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 khoá VI tiếp tục khẳng định và cụ thể hoá chủ trương từ kỳ Đại hội: “cho phép mở một số trường dân lập cấp II 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và cấp III chứ không phải tư thục trong trường hợp ngân sách nhà nước không đủ khả năng đầu tư; nhà nước quản lý chặt chẽ về nội dung, chương trình giảng dạy và thi cử” [11, tr 12-13]. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, giáo dục cùng với khoa học công nghệ đã được khẳng định là quốc sách hàng đầu; trong phương hướng nhiệm vụ 5 năm từ năm 1991 đến năm 1995 Đảng đã nêu chủ trương “tập trung thực hiện chương trình phổ cập giáo dục cấp I và chống mù chữ; phát triển cấp II, cấp III phù hợp với yêu cầu và điều kiện của nền kinh tế. Củng cố và phát triển trường phổ thông cho trẻ em có tật” [11, tr 17].

Đến tháng 1- 1993, Hội nghị lần thứ 4 BCH trung ương Đảng khoá VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo và ra Nghị quyết phát triển giáo dục- đây là lần đầu tiên BCH Trung ương Đảng có nghị quyết chuyên đề về giáo dục, với 4 quan điểm chỉ đạo và 12 chủ trương biện pháp lớn là lấy học sinh làm trung tâm để xác định địa điểm trường lớp; hình thành các trung tâm chất lượng cao, ở bậc phổ thông là các trường chuyên lớp chọn, trường năng khiếu; liên kết giữa GDPT và giáo dục chuyên nghiệp, phân ban ở trung học; có chính sách thu học phí và học bổng thích hợp; đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực giáo dục. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương IV khoá VII đã tạo nhiều chuyển biến cho công tác giáo dục. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, đưa ra phương hướng chung của GD&ĐT là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên có việc làm. Phát triển giáo dục coi trọng cả 3 mặt, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả.

Quan điểm về giáo dục của Đảng tại Đại hội lần thứ VIII được cụ thể hoá bằng Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương 2 khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000. Với mục tiêu cho giáo dục “thực 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện giáo dục toàn diện đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học” [2, tr 64]. Nghị quyết đã đề ra mục tiêu cụ thể cho GDPT đến năm 2000 “phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước, phần lớn học sinh tiểu học được học đủ 9 môn theo chương trình quy định. Thực hiện tốt năm điều dạy của Bác Hồ.

Phổ cập trung học cơ sở ở các thành phố, đô thị, vùng kinh tế trọng điểm và những nơi có điều kiện… Mở rộng và nâng cao chất lượng dạy kỹ thuật tổng hợp- hướng nghiệp, ngoại ngữ, tin học ở các trường trung học. Nâng cao năng lực tự học và thực hành cho học sinh” [2, tr 64]. Với giải pháp chủ yếu là tăng cường các nguồn lực đầu tư cho giáo dục; xây dựng đội ngũ giáo viên; đổi mới nội dung; phương pháp giảng dạy và tăng cường cơ sở vật chất; đổi mới công tác quản lý giáo dục. Nghị quyết đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển giáo dục nước ta.

Việc thực hiện Nghị quyết đã tiếp thêm sức mạnh cho ngành GDPT phát triển, đáp ứng những yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ khi Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH Trung ương khoá VIII được ban hành đã luôn là kim chỉ nam cho sự nghiệp chỉ đạo phát triển giáo dục của Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) diễn ra trong một thời điểm có ý nghĩa lịch sử trọng đại- bước sang thế kỷ XXI, trải qua 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, tình hình kinh tế xã hội của nước ta thu được những thành tựu quan trọng nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Thực hiện mục tiêu đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Một trong những giải pháp để thực hiện mục tiêu đó là coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Về cơ bản, quan điểm của Đảng đối với sự phát triển giáo dục tại Đại hội lần thứ IX là tiếp tục phát triển từ Đại hội VIII, nâng cao chất lượng giáo 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, có bổ sung thêm cho phù hợp với tình hình mới là thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá. Thực hiện theo phương châm “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội. Coi trọng công tác phân luồng học sinh trung học” [11, tr 94-95] nhằm chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương.

Đề ra giải pháp khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước bộ chương trình và sách giáo khoa phổ thông phù hợp với yêu cầu phát triển mới. Tăng cường cơ sở vật chất và từng bước hiện đại hoá nhà trường, phấn đấu đến năm 2010 phần lớn các trường phổ thông có đủ điều kiện cho học sinh học tập và hoạt động cả ngày tại trường. Để đánh giá và kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII và cụ thể hơn nữa những nội dung về phát triển giáo dục đã được trình bày trong văn kiện Đại hội IX, ngày 26-7-2002, Hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương đã họp và thông qua Kết luận số 14-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, phương hướng phát triển GD&ĐT, khoa học và công nghệ từ nay đến năm 2005 và đến năm 2010, tiếp tục quán triệt quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu và mục tiêu giáo dục toàn diện, tăng cường thực hiện ở mức độ quyết liệt hơn xứng đáng với vị thế quốc sách hàng đầu để tạo nên khâu đột phá làm chuyển biến cơ bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Trước những yêu cầu mới về nguồn nhân lực, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) Đảng khẳng định “đổi mới toàn diện GD&ĐT, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một vấn đề được coi trọng hàng đầu với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” [16, tr 95].

Chuyển mô 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục suốt đời, đào tạo liên tục. “Đổi mới mạnh mẽ giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông. Khẩn trương điều chỉnh, khắc phục tình trạng quá tải và thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông bảo đảm tính khoa học, cơ bản, phù hợp tâm lý lứa tuổi và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Kết hợp với tổ chức phân ban và phân luồng từ THCS, bảo đảm đúng tiến độ và chất lượng phổ cập giáo dục [16, tr 95-96].

Trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 2011-2020, Đảng cũng khẳng định tầm quan trọng của việc đổi mới GDPT “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp bậc học. Tích cực chuẩn bị để từ sau năm 2015 thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới” [11, tr 129-130]. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), ở Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 đưa ra mục tiêu cụ thể đối với GDPT: tập trung phát triển trí tuệ thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học.

Khuyến khích học tập suốt đời. Thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau 2020.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ