Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN. Chương này trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu, với chức năng là công cụ hỗ trợ nghiên cứu. Những khái niệm được thao tác hóa và các lý thuyết được sử dụng làm cơ sở phân tích giá trị của phát triển bền vững đối với du lịch sinh thái- văn hóa, giới thiệu tổng quan về huyện Cần Giờ qua các góc nhìn cụ thể của tọa độ văn hóa làm nền tảng cho vấn đề nghiên cứu. Trong chương này cũng có đề cập đến các mô hình cho việc phát triển du lịch bền vững và những bài học kinh nghiệm trong nước như: Phong Nha Kẻ Bàng, vịnh Hạ Long, Cù lao Chàm và khu vực Đông Nam Á: Thái Lan, Indonesia để làm cơ sở phân tích cho những chương sau.
13 Chương 2: NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN HUYỆN CẦN GIỜ CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH. Chương này khá quan trọng khi trình bày chi tiết về nguồn lực tự nhiên nổi bật của huyện Cần Giờ và thực trạng khai thác giá trị sinh thái của người dân bản địa. Để từ đó chúng tôi có cơ sở phân tích nguyên nhân của những biển đổi và qua đó nêu lên những hệ quả của việc khai thác du lịch không bền vững trong chương 4. Chương 3: NGUỒN LỰC VĂN HÓA HUYỆN CẦN GIỜ CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH.
Cũng giống chương 2, chương này cũng quan trọng và trình bày về nguồn lực văn hóa đặc sắc do huyện sở hữu. Các yếu tố này chính là nguồn tài nguyên quý giá cho việc thu hút du khách và phát triển hoạt động du lịch văn hóa của thành phố Hồ Chí Minh nói chung. Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH SINH THÁI-VĂN HÓA HUYỆN CẦN GIỜ. Chương này nêu ra các tác nhân tích cực và thách thức có ảnh hưởng đến du lịch Cần Giờ, hệ quả của thực trạng khai thác du lịch “không bền vững” tại huyện Cần Giờ từ góc nhìn sinh thái - văn hóa - kinh tế.
Song song đó, dựa vào những bài học kinh nghiệm đã nêu ra trong phần chương 1 chúng tôi có cơ sở đề xuất xây dựng bền vững ngành du lịch Cần Giờ từ góc nhìn kinh tế, góc nhìn môi trường, góc nhìn xã hội - mô hình phát triển bền vững văn hóa 10R tại huyện Cần Giờ. 14 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm liên quan Luận văn đề cập trực tiếp đến các khái niệm cơ bản như văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, phát triển bền vững, phát triển du lịch bền vững và du khách hậu hiện đại. Chính vì vậy, trong mục lý luận này chúng tôi thảo luận nền tảng khái niệm và lý luận được áp dụng cụ thể.
Văn hóa Thế giới đã thảo luận về văn hóa từ đầu Công nguyên, bắt đầu đi từ giải thích từ nguyên đến đề cập một cách có hệ thống khoa học, trong đó có các tác giả Lưu Hướng (Trung Quốc) TK I trước Công nguyên và E. Tylor TK XIX sau Công nguyên. Lưu Hướng sử dụng thuật ngữ văn hóa mang ý nghĩa đối lập với vũ lực, xem sử dụng văn hóa là một phương thức giáo hóa con người – “văn trị giáo hóa” [48, tr. Ở phương Tây, E.
Tylor khẳng định: “Từ văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên xã hội” [5, tr. Đến đầu TK XX, giới nghiên cứu nhân học và văn hóa đã đề xuất rất nhiều định nghĩa cơ bản, trong đó có các tác giả tiêu biểu sau: Theo A. Kluckhohn quan niệm “Văn hóa là loại hành vi rõ ràng và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng, và nó hình thành quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác, trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra” [48, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nhận định: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi sinh tồn” [10, tr.
Tổ chức UNESSCO đánh giá “Văn hóa là một tập hợp các hệ thống biểu tượng quy định thế ứng xử của con người và làm số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt” [46, tr. Còn theo tác 15 giả Trần Ngọc Thêm, “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [36, tr. Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa đến nay rất đa dạng và đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa. Chúng tôi dựa trên các định nghĩa đã nêu để xác định một khái niệm văn hóa cho riêng mình nhằm thuận tiện cho việc thực hiện đề tài luận văn này, theo đó văn hóa là thành quả nhận thức và lao động được tạo ra, gìn giữ và lưu truyền trong quan hệ tương tác qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội nhằm đáp ứng những nhu cầu tất yếu và nâng cao của cuộc sống.
Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và là phương tiện thể hiện khả năng phát triển và tích lũy tri thức sống của con người trong xã hội. Vì thế, văn hóa của mỗi tộc người sẽ chia sẻ nhiều giá trị phổ quát song cũng hàm chứa những đặc trưng riêng tộc người mình. Trong văn hóa luôn có dấu ấn tự nhiên, vì thế ứng xử với tự nhiên là một hoạt động phổ quát của nhân loại, trong đó có hoạt động du lịch. Du lịch sinh thái Sinh thái chỉ môi trường tự nhiên – là tổng thể các nhân tố tự nhiên xung quanh chúng ta như bầu khí quyển, nước, thực vật, động vật, thổ nhưỡng v.
Sự đa dạng đó là yếu tố góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa lẫn sinh thái và khi hai yếu tố này kết hợp lại trong hoạt động du lịch thì nó tạo ra một loại hình du lịch hấp dẫn rất nhiều du khách, giới khoa học và nhiều doanh nghiệp. Các khái niệm, định nghĩa phổ biến về du lịch sinh thái phổ biến như: Theo Hector Ceballos – Lascurain (1987) thì “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi với các mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thiên nhiên hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá” [20, tr. Wood (1991): “Du lịch sinh thái là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái. Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho nhân dân địa phương” [20, tr.
Bộ Luật du lịch Việt Nam (2005) thì 16 định nghĩa: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” [49, tr. Song song đó, Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế TIES (1999) nhận định: “Du lịch sinh thái là việc đi lại của người có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện được phúc lợi cho người dân địa phương” [20, tr. Định nghĩa của Malaysia: “Du lịch sinh thái là hoạt động du lịch và thăm viếng một cách có trách nhiệm về mặt môi trường, tới những khu thiên nhiên còn nguyên vẹn, nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị của thiên nhiên (và những đặc tính văn hóa kèm theo, trước đây cũng như hiện nay), mà hoạt động này sẽ thúc đẩy công tác bảo tồn, có ảnh hưởng của du khách không lớn và tạo điều kiện cho dân chúng địa phương được tham dự một cách tích cực, có lợi về xã hội và kinh tế” [20, tr. Theo tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế giới IUCN, “Du lịch sinh thái là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên (và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành), qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra, và tạo ra lợi ích cho những người dân địa phương tham gia tích cực” [2, tr.
Các định nghĩa, khái niệm trên đều nêu bật được vấn đề chung đó là khách du lịch có thể khám phá và tìm hiểu những hệ sinh thái và văn hóa bản đại tại những vùng đất mới, còn tương đối hoang sơ. Đồng thời, chính họ cũng sẽ là những người góp phần tạo ra lợi ích cho công đồng địa phương thông qua việc mang lại các phúc lợi và hành động bảo vệ thiên nhiên của họ. Theo chúng tôi, định nghĩa của IUCN có lẽ là đầy đủ hơn cả khi thể hiện hầu như các yếu tố cần thiết để mọi người có thể hiểu rõ về du lịch sinh thái. 17 Du lịch văn hóa Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương” [42, tr.
Theo Hội đồng quốc tế các Di chỉ và Di tích (ICOMOS), “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích và di chỉ. Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn. Loại hình này trên thực tế đã chứng minh cho những nổ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa – kinh tế - xã hội” [42, tr. Theo khoản 22 (Điều 4) - Luật du lịch Việt Nam năm 2005, “du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [42, tr.