Tổng quan nghiên cứu

Vườn quốc gia Cúc Phương là khu bảo tồn thiên nhiên đầu tiên của Việt Nam được thành lập từ năm 1962, với tổng diện tích tự nhiên đạt 22.200 ha trải rộng trên địa bàn 3 tỉnh gồm Ninh Bình (11.350 ha), Thanh Hóa (5.850 ha) và Hòa Bình (5.000 ha). Nơi đây sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên núi đá vôi đặc sắc với đỉnh Mây Bạc cao 636 m và hệ động thực vật quý hiếm bậc nhất cả nước. Mặc dù hoạt động du lịch sinh thái tại Cúc Phương đã hình thành và phát triển từ sớm, thu hút hàng chục nghìn lượt du khách trong và ngoài nước mỗi năm, nhưng lợi ích kinh tế mang lại cho cộng đồng dân cư sinh sống tại khu vực vùng đệm vẫn còn nhiều hạn chế.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài tập trung vào mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt tài nguyên rừng với nhu cầu sinh kế cấp thiết của người dân bản địa (chủ yếu là đồng bào dân tộc Mường). Mục tiêu cụ thể của luận văn là khảo sát, lượng hóa và đánh giá thực trạng chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư vùng đệm; phân tích mức độ tác động của hoạt động du lịch sinh thái hiện hữu; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch sinh thái nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, giảm áp lực xâm hại tài nguyên rừng.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai chuyên sâu tại 4 địa bàn mẫu đại diện cho khu vực vùng đệm gồm xã Cúc Phương, xã Kỳ Phú, xã Yên Quang (huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình) và thôn Khanh (xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình) trong giai đoạn từ tháng 6 năm 2007 đến tháng 8 năm 2008. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đóng góp cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ công tác xóa đói giảm nghèo cho hơn 2.000 hộ gia đình vùng đệm và hoàn thiện mô hình quản lý du lịch sinh thái bền vững tại các vườn quốc gia Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển du lịch bền vững và du lịch sinh thái do Hector Ceballos-Lascurain khởi xướng, kết hợp cùng các nguyên tắc chỉ đạo của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO). Khái niệm du lịch sinh thái được xác định là loại hình du lịch có trách nhiệm tại các vùng thiên nhiên hoang sơ, gắn liền với mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học, giáo dục môi trường và đảm bảo sự tham gia, chia sẻ lợi ích kinh tế trực tiếp với cộng đồng địa phương.

Đề tài tích hợp lý thuyết sức chứa du lịch để kiểm soát ngưỡng tải sinh thái, bao gồm: sức chứa vật lý (PCC), sức chứa thực tế (RCC) và sức chứa tối ưu (ECC) dựa trên công thức toán học tính toán diện tích sử dụng, hệ số quay vòng và các biến số điều chỉnh môi trường. Về mặt phúc lợi xã hội, nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết chất lượng cuộc sống (QOL) của Đại học Toronto (Canada) với 3 lĩnh vực cấu thành: Con người (thực thể, tâm lý, tinh thần), Mối liên hệ (vật chất, tinh thần, cộng đồng) và Hoàn thiện (thao tác, cảm xúc, trí năng). Đồng thời, luận văn đối chiếu với hệ thống tiêu chí định lượng của Economist Intelligence Unit (EIU) gồm 9 chỉ báo và thang xếp hạng của International Living (IL) – nơi Việt Nam xếp hạng 130 trên 195 quốc gia vào năm 2007 – để xây dựng chỉ số chất lượng cuộc sống (QOLI) phù hợp với thực tiễn vùng đệm nông thôn miền núi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp các nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phương pháp điền dã thực địa và điều tra xã hội học. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 350 phiếu điều tra bảng hỏi tiêu chuẩn được phân bổ ngẫu nhiên phân tầng tại 4 cụm dân cư vùng đệm. Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên là nhằm đảm bảo tính đại diện cao về mặt địa giới hành chính, mức độ tiếp cận hạ tầng du lịch và thành phần dân tộc giữa các xã vùng đệm tiếp giáp trực tiếp với vùng lõi vườn quốc gia.

Quá trình thu thập thông tin sơ cấp được thực hiện qua 3 đợt điền dã chuyên sâu: đợt 1 vào tháng 11 năm 2007 khảo sát 3 xã thuộc huyện Nho Quan (Ninh Bình); đợt 2 vào tháng 3 năm 2008 làm việc trực tiếp tại Ban quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương; đợt 3 vào tháng 6 năm 2008 khảo sát thôn Khanh (Hòa Bình). Dữ liệu sau khi thu thập được xử lý bằng các phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và phương pháp lấy ý kiến chuyên gia (các nhà xã hội học, nhà nghiên cứu du lịch, cán bộ bảo tồn) nhằm xác định hệ số tương quan và chuẩn hóa công thức tính chỉ số QOLI tổng hợp cho cộng đồng dân cư.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích 350 mẫu khảo sát tại 4 địa bàn nghiên cứu đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản về chất lượng cuộc sống của người dân vùng đệm:

Thứ nhất, về cơ cấu thu nhập và sinh kế, sản xuất nông - lâm nghiệp truyền thống vẫn chiếm tỷ trọng chi phối với trên 78,5% tổng nguồn thu của hộ gia đình. Tỷ lệ đóng góp từ hoạt động du lịch sinh thái vào tổng thu nhập hộ dân chỉ đạt mức khiêm tốn từ 6,5% đến 11,2%. Trong đó, tỷ lệ hộ gia đình tham gia trực tiếp vào các dịch vụ du lịch (như vận chuyển, lưu trú, bán hàng lưu niệm, dẫn đường) chỉ đạt khoảng 12,0%, phần lớn người dân chưa có cơ hội tiếp cận chuỗi giá trị du lịch.

Thứ hai, điều kiện cơ sở vật chất và tiện nghi sinh hoạt còn nhiều thiếu thốn. Cơ cấu nhà ở kiên cố chỉ chiếm khoảng 24,6%, nhà bán kiên cố và nhà sàn gỗ truyền thống chiếm tới 71,2%, còn lại 4,2% là nhà tạm bợ. Nguồn nước sinh hoạt của hơn 82,0% số hộ phụ thuộc vào nước mưa và nước khe núi tự nhiên chưa qua xử lý. Đáng chú ý, tỷ lệ hộ gia đình sở hữu công trình vệ sinh tự hoại đạt chuẩn dưới 35,0%.

Thứ ba, các chỉ số giáo dục và y tế bộc lộ rõ rệt sự bất cập. Trình độ học vấn của lực lượng lao động tập trung chủ yếu ở bậc tiểu học và trung học cơ sở (chiếm 68,4%), tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên môn về du lịch đạt chưa đầy 3,5%. Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học bỏ học sau bậc trung học cơ sở tại một số thôn vùng sâu lên tới 14,8% do hoàn cảnh kinh tế khó khăn và khoảng cách đi lại xa xôi.

Thứ tư, kết quả lượng hóa chỉ số chất lượng cuộc sống (QOLI) tổng hợp tại 4 địa bàn đạt mức trung bình trong khoảng 0,48 đến 0,56 trên thang điểm 1,0. Điểm số QOLI cao nhất ghi nhận tại xã Cúc Phương (0,56) nhờ vị trí cửa ngõ đón khách, và thấp nhất tại thôn Khanh (0,48) do điều kiện giao thông cách trở và kinh tế thuần nông.

Thảo luận kết quả

Thực trạng chất lượng cuộc sống khiêm tốn của cư dân vùng đệm Cúc Phương phản ánh sự đứt gãy giữa hoạt động kinh doanh du lịch của các đơn vị lữ hành với sinh kế của cộng đồng địa phương. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ nguồn vốn tự có của người dân hạn hẹp, trình độ dân trí và kỹ năng dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu du lịch sinh thái, cùng với sự thiếu vắng một cơ chế liên kết, điều tiết lợi ích minh bạch giữa Ban quản lý Vườn quốc gia với chính quyền các xã.

Khi đối chiếu với các nghiên cứu tại Vườn quốc gia Ba Bể và Vườn quốc gia Cát Bà, mức độ tham gia vào chuỗi cung ứng du lịch của người dân Cúc Phương có sự tương đồng về tỷ lệ rò rỉ doanh thu, khi phần lớn nguồn thu từ vé tham quan, dịch vụ ăn uống cao cấp và lưu trú tập trung vào các đơn vị lữ hành ngoài địa phương. Dữ liệu nghiên cứu được minh họa trực quan qua hệ thống 10 biểu đồ cơ cấu kinh tế - xã hội (cơ cấu thu nhập, nguồn nước sinh hoạt, trình độ học vấn, phương thức chữa bệnh) và bảng xếp hạng chỉ số QOLI, chứng minh rõ ràng rằng việc thúc đẩy mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng chính là đòn bẩy trực tiếp để nâng cao các tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát và phân tích chỉ số QOLI, luận văn đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy du lịch sinh thái gắn với nâng cao chất lượng cuộc sống:

  1. Đa dạng hóa sinh kế và tăng thu nhập từ du lịch: Xây dựng các mô hình du lịch homestay đạt chuẩn tại các bản người Mường, phát triển các tổ nhóm dịch vụ ẩm thực truyền thống, đội văn nghệ dân gian và đội ngũ hướng dẫn viên địa phương. Mục tiêu nâng tỷ lệ hộ dân tham gia chuỗi cung ứng du lịch lên 35% đến 40% trong giai đoạn 2009 - 2015, gia tăng thu nhập từ du lịch thêm 25% đến 30% cho mỗi hộ. Chủ thể thực hiện là Ủy ban nhân dân các xã phối hợp với Ban quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương.

  2. Cải thiện cơ sở hạ tầng nước sạch và vệ sinh môi trường: Triển khai chương trình hỗ trợ 50% kinh phí xây dựng bể lọc nước sinh hoạt và nhà tiêu hợp vệ sinh cho các hộ tham gia làm du lịch. Thời gian thực hiện trong vòng 24 tháng, phấn đấu đạt mục tiêu 85% số hộ vùng đệm được tiếp cận nước sạch và nhà vệ sinh tự hoại.

  3. Nâng cấp điều kiện y tế và giáo dục: Tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ du lịch, kỹ năng giao tiếp và ngoại ngữ cơ bản cho khoảng 200 lao động địa phương mỗi năm; đồng thời cấp học bổng cho con em đồng bào nghèo để giảm tỷ lệ bỏ học xuống dưới 5,0%. Sở Du lịch và Sở Giáo dục & Đào tạo các tỉnh đóng vai trò chủ trì.

  4. Thiết lập cơ chế chia sẻ tài chính từ hoạt động du lịch: Ban hành quy chế trích 8% đến 10% tổng nguồn thu phí tham quan vườn quốc gia để lập Quỹ phát triển cộng đồng thôn bản. Quỹ này được sử dụng công khai để tái đầu tư hạ tầng y tế thôn, đường giao thông liên thôn và quỹ tín dụng vi mô cho người dân vay vốn làm du lịch.

  5. Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành liên tỉnh: Thành lập Ban điều phối phát triển du lịch sinh thái vùng đệm liên tỉnh (Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa) nhằm thống nhất quy hoạch các tuyến điểm du lịch liên xã, kiểm soát an ninh trật tự và thực hiện nghiêm ngặt quy định bảo tồn tài nguyên thiên nhiên trong vòng 3 năm tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý khu bảo tồn: Cung cấp phương pháp luận khoa học về lượng hóa chỉ số QOLI và công thức tính sức chứa du lịch (PCC, RCC), giúp các cơ quan quản lý tại hơn 30 vườn quốc gia trên toàn quốc xây dựng chính sách phân vùng đệm và cơ chế chia sẻ lợi ích kinh tế bền vững.

  2. Giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu ngành Du lịch học: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp kết hợp nghiên cứu xã hội học định lượng với khoa học du lịch, phục vụ trực tiếp cho các đề tài nghiên cứu về du lịch có trách nhiệm và phát triển cộng đồng.

  3. Các doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch sinh thái: Cung cấp dữ liệu thực chứng về tài nguyên văn hóa bản địa, tập quán sinh hoạt của người Mường vùng đệm Cúc Phương, giúp doanh nghiệp thiết kế các tour du lịch trải nghiệm có trách nhiệm và xây dựng chuỗi liên kết dịch vụ bền vững với người dân.

  4. Các tổ chức phi chính phủ và dự án bảo tồn quốc tế: Cung cấp bộ dữ liệu thực địa 350 mẫu khảo sát về các chỉ số nghèo đa chiều, hỗ trợ quá trình thiết kế, thẩm định và triển khai các dự án bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng (CBCRM) tại vùng miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

  1. Cỡ mẫu và phạm vi khảo sát của đề tài được lựa chọn như thế nào? Đề tài thực hiện khảo sát với quy mô 350 phiếu điều tra bảng hỏi tiêu chuẩn tại 4 địa bàn mẫu đại diện cho vùng đệm thuộc 2 tỉnh: xã Cúc Phương, xã Kỳ Phú, xã Yên Quang (huyện Nho Quan, Ninh Bình) và thôn Khanh (huyện Lạc Sơn, Hòa Bình), đảm bảo tính đại diện cao cho hơn 2.000 hộ dân sinh sống quanh khu vực bảo tồn 22.200 ha.

  2. Chỉ số chất lượng cuộc sống (QOLI) trong luận văn được đo lường qua những tiêu chí nào? Chỉ số QOLI được tính toán dựa trên 8 nhóm tiêu chí định lượng gồm: cơ cấu thu nhập, chất lượng nhà ở, nguồn nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, trình độ học vấn và tỷ lệ đến trường, tình hình an ninh trật tự xã hội, thời gian rỗi và mức độ hưởng thụ văn hóa tinh thần.

  3. Vì sao mức hưởng lợi từ du lịch của người dân vùng đệm Cúc Phương thời điểm nghiên cứu còn thấp? Do cơ cấu kinh tế của hơn 78,5% hộ dân vẫn thuần nông; người dân thiếu vốn đầu tư homestay, thiếu kỹ năng phục vụ chuyên nghiệp và chưa có cơ chế điều tiết tỷ lệ phần trăm doanh thu vé tham quan từ vườn quốc gia về cho quỹ cộng đồng thôn bản.

  4. Phương pháp tính sức chứa du lịch có vai trò gì trong quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương? Phương pháp xác định sức chứa vật lý (PCC) và sức chứa thực tế (RCC) giúp ban quản lý khống chế lượng khách tối đa trên từng tuyến tham quan (như tuyến Cây Chò chỉ, Đỉnh Mây Bạc), hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường sống của các loài linh trưởng nguy cấp và duy trì trải nghiệm tốt nhất cho du khách.

  5. Những giải pháp cấp bách nào cần ưu tiên thực hiện trước mắt? Hai giải pháp trọng tâm cần ưu tiên là: trích 8% đến 10% doanh thu vé vào Quỹ phát triển cộng đồng để hỗ trợ xây dựng hạ tầng nước sạch, nhà tiêu tự hoại; đồng thời mở các lớp đào tạo nghề du lịch sinh thái tại chỗ cho 200 lao động địa phương mỗi năm nhằm nâng tỷ lệ tham gia dịch vụ lên 35% đến 40%.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu đề ra với những đóng góp quan trọng:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phát triển du lịch sinh thái, các nguyên tắc sức chứa môi trường và khung lý thuyết đánh giá chất lượng cuộc sống đa chiều của cộng đồng dân cư.
  • Đo lường và lượng hóa thành công chỉ số chất lượng cuộc sống (QOLI) trên tập mẫu 350 hộ dân tại 4 địa bàn vùng đệm Vườn quốc gia Cúc Phương với diện tích 22.200 ha.
  • Nhận diện chính xác các nút thắt về sinh kế khi thu nhập từ du lịch sinh thái mới chỉ đóng góp từ 6,5% đến 11,2% và tỷ lệ hộ tham gia dịch vụ trực tiếp chỉ dừng lại ở mức 12,0%.
  • Xây dựng hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ và khả thi với lộ trình thực hiện từ 2 đến 5 năm, chú trọng cơ chế chia sẻ tài chính và đào tạo nhân lực tại chỗ.
  • Đóng góp mô hình tham chiếu thực tiễn giá trị cho công tác hoạch định chính sách du lịch bền vững và quản lý vùng đệm tại các khu bảo tồn thiên nhiên trên toàn quốc.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp du lịch hãy tham khảo, vận dụng khung chỉ số QOLI và hệ thống giải pháp của luận văn vào thực tiễn quy hoạch để kiến tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng bản địa song hành cùng mục tiêu bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.