đặt vấn đề về du lịch sinh thái và sự tìm kiếm đi đến sự thống nhất bản chất , nhận thức của loại hình du lịch sinh thái vẫn đang được tiếp tục trên nhiều diễn đàn quốc tế và trong nước. Loại hình du lịch sinh thái về thực chất là loại hình có quy mô không lớn, nhưng có tác dụng hoà nhập môi trường tự nhiên với điểm du lịch, khu du lịch và nền văn hoá đó. Chính loại hình du lịch này cũng là loại hình du lịch bền vững mà hiện nay Tổ chức Du lịch thế giới đã khẳng định đối với các hoạt động du lịch nhằm vừa đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách cùng người dân ở vùng có du khách đến thăm quan, nghỉ dưỡng v. đồng thời chú trọng tới việc tôn tạo nhằm bảo tồn các nguồn tài nguyên du lịch để có điều kiện phát triển hoạt động của du lịch trong tương lai.
Hector Ceballos-Lascurain- một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái(DLST), định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: "Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới động-thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này" trích trong bài giảng Du lịch sinh thái của Nguyễn Thị Sơn. Năm 1994 nước Úc đã đưa ra khái niệm “DLST là Du lịch dựa vào thiên nhiên, có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên được quản lý bền vững về mặt sinh thái”. Sinh viên: Bùi Kim Ngân 4 Lớp: VH1801 Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, năm 1998 “DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”. Một định nghĩa khác của Honey (1999) “DLST là du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất.
Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiêp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyên kích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”. Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”. Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái “DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triền môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”.
Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”. Theo quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2007, thì Du lịch Sinh thái Sinh viên: Bùi Kim Ngân 5 Lớp: VH1801 Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng được hiểu là “Du lịch sinh thái: Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững”. Theo Hiệp hội Du lịch Sinh Thái (The Internatonal Ecotourism society) thì “DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”.Lịch sử của du lịch sinh thái : DLST khởi đầu ở các nước đang phát triển vào cuối những năm 60 TK XX. Quần đảo Galapagos là nơi bắt đầu tổ chức DLST và ở khu vực Đông Phi, mặc dù nhiều lĩnh vực của du lịch thám hiểm như săn bắn không đủ tiêu chuẩn là DLST.
Trong những năm 60 và 70 TK XX, DLST phân bố hạn chế, chiếm tỷ lệ rất nhỏ của thị trường du lịch quốc tế. Ở các nước phát triển, DLST là trò giải trí phổ biến mang tính nội địa được tổ chức trong những nhóm nhỏ, đặc biệt là nhóm người quan sát động vật hoặc du khách đến vui chơi ở công viên. Đến cuối những năm 80 TK XX, DLST còn là hiện tượng xa lạ, chỉ mới bắt đầu xuất hiện là từ vựng phổ thông. Từ sau năm 1990, trên thế giới loại hình DLST dần phát triển ở một số quốc gia như Australia, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Pháp, Thụy Điển, Đan Mạch… Đến cuối những năm 90 TK XX, DLST phát triển mạnh và nổi bật ở các khu vực châu Phi, châu Mỹ, Nam Mỹ, châu Mỹ La Tinh.
Trong nghiên cứu của Lew năm 1997, DLST ở châu Á - Thái Bình Dương được chia theo 3 khu vực: Nam và Đông Nam Á, bao gồm các khu vực kết hợp với nhau là điểm đến quốc tế lớn; Australia và New Zealand, có các ngành kinh doanh DLST nội địa quan trọng, được xem là thị trường quốc tế thứ hai; khu vực sinh thái ngoại vi, bao gồm Trung Quốc và Nhật Bản, các đảo Thái Bình Dương. Theo dự báo của UNWTO, du lịch kinh nghiệm trong đó bao gồm DLST, du lịch thiên nhiên, di sản, văn hóa và mạo hiểm… là một trong những lĩnh vực được dự đoán sẽ tăng trưởng nhanh nhất trong hai thập kỷ tiếp theo. Sinh viên: Bùi Kim Ngân 6 Lớp: VH1801 Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng Ở Việt Nam, từ sau năm 1975, nhà nước chưa có điều kiện để tổ chức hoạt động du lịch. Đến những năm 90 TK XX, loại hình DLST ở Việt Nam mới bắt đầu tổ chức ở một số tỉnh, thành phố như TP.
HCM, Huế, Hà Nội, Quảng Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Nha Trang, Bình Thuận… Dù mới bắt đầu, song loại hình DLST luôn được chú ý và đặt trong kế hoạch 2001 - 2010, nhiều nơi đã có quy hoạch mở rộng loại hình này. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đến đầu năm 2000, các sản phẩm DLST đích thực ở Việt Nam chưa có, mà mới chỉ là loại hình du lịch thiên nhiên mang màu sắc của DLST. Đến nay, DLST trong phạm vi cả nước nói chung còn đang trong giai đoạn phát triển đầu tiên. Các hoạt động mang tính tự phát, chưa có sản phẩm và đối tượng phục vụ, sự đầu tư quảng bá, nghiên cứu thị trường và công nghệ phục vụ cho DLST còn nhiều hạn chế… 3.Đặc điểm : Thỏa mãn nhu cầu trải nghiệm thiên nhiên cho du khách: Du khách du lịch sinh thái thường có mong muốn trải nghiệm thiên nhiên hoang sơ, hệ sinh thái phong phú và nét văn hoá bản địa.
Du khách có thể hoà nhập vào môi trường tự nhiên tại khu du lịch và nền văn hoá ở đó. Nhiều trò chơi dân gian thư giãn, hấp dẫn: Du lịch sinh thái thường với lợi thế là điểm đến thoáng mát, gần gũi với thiên nhiên nên các đơn vị lữ hành thường thiết kế nhiều trò chơi dân gian thú vị và hấp dẫn du khách. Thân thiện và gần gũi hơn với thiên nhiên: du lịch sinh thái thì thiên nhiên đóng vai trò rất quan trọng trong loại hình du lịch này. Những ai tham gia loại hình du lịch sinh thái sẽ có nhiều cơ hội hơn khi tìm về với thiên nhiên, đồng xanh, cây cỏ, bờ lau, con nước … Hỗ trợ bảo tồn hệ sinh thái: Đây là một đặc điểm khác biệt nổi bật của du lịch sinh thái so với các loại hình du lịch khác.
Trong du lịch sinh thái: hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch được quản lí cho sự bền vững của cả hệ sinh thái. Sinh viên: Bùi Kim Ngân 7 Lớp: VH1801 Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng Hỗ trợ phát triển cộng đồng địa phương: Du lịch sinh thái giúp cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đồng địa phương và môi trường của khu vực. Các nguyên tắc cơ bản để hoạt động du lịch sinh thái : -Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường. Qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn.
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa Du lịch sinh thái với các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên khác. Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có được sự hiểu biết cao hơn về các giá trị của môi trường tự nhiên về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hoá bản địa. Với những hiểu biết đó, thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi, được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái và văn hoá du lịch. – Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái.
Cũng như hoạt động của các loại hình du lịch khác, hoạt động Du lịch sinh thái tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên. Nếu như đối với những loại hình du lịch khác, vấn đề đó bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái chưa phải là ưu tiên hàng đầu thì ngược lại. Du lịch sinh thái coi đây là 1 nguyên tắc cơ bản, cần tuân thủ vì: + Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu hoạt động của Du lịch sinh thái.